Viêm ruột thừa cấp trong thai kỳ

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Tổng quan – Viêm ruột thừa cấp là cấp cứu ngoại khoa thường gặp nhất trong thời kỳ mang thai. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng – Các biểu hiện lâm sàng của viêm ruột thừa ở phụ nữ mang thai tương tự như ở người không mang thai; tuy nhiên, cần lưu ý các điểm sau:

  • Vị trí đau – Đau hố chậu phải là triệu chứng phổ biến nhất và thường xuất hiện trong phạm vi vài centimet quanh điểm McBurney ở hầu hết thai phụ, bất kể giai đoạn thai kỳ. Trong giai đoạn muộn của thai kỳ, vị trí đau có thể di chuyển lên vùng giữa hoặc vùng trên bên phải. Phản ứng dội và đề kháng thành bụng thường ít rõ rệt hơn, đặc biệt là trong tam cá nguyệt thứ ba. (Xem ‘Triệu chứng lâm sàng’ ở dưới.)
  • Tăng bạch cầu trong thai kỳ – Tăng bạch cầu nhẹ có thể là một hiện tượng sinh lý bình thường ở phụ nữ mang thai: số lượng bạch cầu tổng số có thể lên tới 16.900 cell/microL trong tam cá nguyệt thứ ba và 29.000 cells/microL trong quá trình chuyển dạ; do đó, tình trạng tăng bạch cầu có thể là dấu hiệu của viêm ruột thừa hoặc không. (Xem ‘Cận lâm sàng’ ở dưới.)
  • Chẩn đoán lâm sàng – Cần nghi ngờ cao chẩn đoán viêm ruột thừa ở thai phụ khi có các dấu hiệu điển hình: đau bụng di chuyển xuống hố chậu phải, ấn đau hố chậu phải, buồn nôn/nôn, sốt và tăng bạch cầu kèm chuyển trái. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Trong trường hợp biểu hiện không điển hình (thường gặp trong thai kỳ muộn), chỉ định chẩn đoán hình ảnh là cần thiết. Chúng tôi cho rằng chẩn đoán hình ảnh rất hữu ích trong việc xác nhận hoặc loại trừ chẩn đoán nghi ngờ viêm ruột thừa.

Chẩn đoán hình ảnh – Có ba phương pháp chẩn đoán hình ảnh chính có thể áp dụng cho thai phụ nghi ngờ viêm ruột thừa. Siêu âm thường là lựa chọn đầu tay vì tính sẵn có và không gây nhiễm xạ. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)

  • Siêu âm – Chúng tôi khuyến cáo thực hiện siêu âm nén phân cấp cho bệnh nhân mang thai nghi ngờ viêm ruột thừa. Chẩn đoán viêm ruột thừa được xác lập khi quan sát thấy cấu trúc dạng ống, đầu tận cùng tịt, không thể nén xẹp, với đường kính tối đa >6 mm ở hố chậu phải. (Xem ‘Siêu âm’ ở dưới.)
  • MRI – Nếu kết quả lâm sàng và siêu âm không rõ ràng, hoặc tại các trung tâm hạn chế về kinh nghiệm siêu âm ruột thừa, chúng tôi khuyến cáo chụp cộng hưởng từ (MRI) không tiêm thuốc tương phản. MRI đặc biệt hữu ích cho đối tượng nghi ngờ viêm ruột thừa vì cung cấp hình ảnh chi tiết mà không gây nhiễm xạ, khả năng hiển thị mô mềm vượt trội và giúp phân biệt viêm ruột thừa với các bệnh lý phụ khoa khác (như nang buồng trứng) vốn có thể gây ra các triệu chứng lâm sàng tương tự. (Xem ‘Chụp cộng hưởng từ (MRI)’ ở dưới.)
  • CT scan – Chúng tôi chỉ định chụp CT khi kết quả lâm sàng và siêu âm không rõ ràng và không có MRI, vì CT có độ chính xác cao hơn siêu âm và khả năng hiển thị ruột thừa đáng tin cậy hơn cả siêu âm và MRI. (Xem ‘Chụp cắt lớp vi tính (CT)’ ở dưới.)

Phẫu thuật

  • Quyết định phẫu thuật – Quyết định can thiệp phẫu thuật phải dựa trên các phát hiện lâm sàng, kết quả chẩn đoán hình ảnh và đánh giá chuyên môn của bác sĩ. Trì hoãn can thiệp quá 24 giờ sẽ làm tăng nguy cơ thủng ruột thừa. (Xem ‘Xử trí và kết cục ngắn hạn’ ở dưới.)
  • Tiếp cận phẫu thuật – Khi chẩn đoán đã tương đối chắc chắn, chúng tôi khuyến cáo phẫu thuật cắt ruột thừa bằng phương pháp mà phẫu thuật viên thành thạo nhất, dù là phẫu thuật xâm lấn tối thiểu hay mổ mở. Nếu mổ mở, chúng tôi đề xuất đường rạch ngang tại điểm đau nhất (Khuyến cáo 2C). Trong trường hợp chẩn đoán chưa chắc chắn và không có phương tiện phẫu thuật nội soi, chúng tôi đề xuất đường rạch dọc giữa dưới (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Tiếp cận phẫu thuật’ ở dưới.)
  • Xử trí viêm ruột thừa thủng – Việc xử trí viêm ruột thừa thủng tùy thuộc vào việc ổ thủng tự do hay đã được khu trú. Thủng tự do có thể gây lan tỏa mủ và phân vào khoang phúc mạc. Những bệnh nhân này thường có tình trạng bệnh nặng và có thể rơi vào sốc nhiễm khuẩn. Cần mổ mở cấp cứu để cắt ruột thừa, kết hợp rửa và dẫn lưu khoang phúc mạc. (Xem ‘Viêm ruột thừa thủng’ ở dưới.)
  • Điều trị nội khoa đơn thuần bằng kháng sinh – Không khuyến cáo chỉ điều trị bằng kháng sinh vì phương pháp này có tỷ lệ thất bại cả trong ngắn hạn và dài hạn, đồng thời dữ liệu về an toàn cho thai phụ còn hạn chế.

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here