TÓM TẮT
Tổng quan- Các biểu hiện tim mạch không do bệnh mạch vành thường gặp ở bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và cần được ưu tiên đặt trong chẩn đoán phân biệt khi bệnh nhân có các triệu chứng như nhịp tim nhanh, bất thường trên điện tâm đồ, tiếng tim bệnh lý, đau hoặc thắt ngực, khó thở, đánh trống ngực hoặc phù chân. Bệnh lý van tim, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, loạn nhịp tim và bệnh mạch vành (CAD) có tỷ lệ mắc cao ở bệnh nhân SLE. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới và “Lupus ban đỏ hệ thống ở người lớn: Bệnh mạch vành”.)
- Tổn thương van tim ở bệnh nhân SLE dao động từ sa van hai lá đến sự hiện diện của sùi van tim phù hợp với viêm nội tâm mạc không do vi khuẩn (NBTE). Mặc dù việc siêu âm tim định kỳ không được khuyến cáo ở những bệnh nhân SLE không có triệu chứng để tầm soát bệnh lý van tim, nhưng cần phải hết sức cảnh giác ở bệnh nhân SLE, đặc biệt là những người có kháng thể kháng phospholipid (aPL) hiệu giá cao. Siêu âm tim có giá trị ở những bệnh nhân này, đặc biệt là khi phát hiện có tiếng tim bệnh lý. (Xem ‘Bệnh lý van tim’ ở dưới và “Viêm nội tâm mạc không do vi khuẩn”, phần ‘Biểu hiện lâm sàng và đánh giá’.)
- Không khuyến cáo dự phòng kháng sinh cho hầu hết bệnh nhân SLE có bệnh lý van tim. Tuy nhiên, những bệnh nhân SLE có tổn thương van tim kèm theo tình trạng suy giảm miễn dịch có thể thuộc nhóm nguy cơ cao mà các hướng dẫn của Trường Cao đẳng Tim mạch Hoa Kỳ/Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ chưa xem xét tới. Chúng tôi chỉ định dự phòng kháng sinh trước các thủ thuật có nguy cơ gây nhiễm khuẩn huyết cho những bệnh nhân SLE đang suy giảm miễn dịch đã được xác định có tổn thương van tim. (Xem ‘Phòng ngừa viêm nội tâm mạc do vi khuẩn’ ở dưới và “Phòng ngừa viêm nội tâm mạc: Dự phòng kháng sinh và các biện pháp khác”.)
- Bệnh lý màng ngoài tim là một biểu hiện thường gặp của SLE và thường liên quan đến các đợt bùng phát bệnh. Viêm màng ngoài tim, giống như các dạng viêm thanh mạc khác, thường xảy ra khi SLE đang hoạt động ở các cơ quan khác. Tình trạng tràn dịch lớn và chèn ép tim có thể xảy ra. Chọc dò màng ngoài tim có thể được chỉ định để dẫn lưu dịch nếu có dấu hiệu chèn ép tim hoặc để loại trừ các nguyên nhân gây viêm màng ngoài tim có thể đe dọa tính mạng (ví dụ: viêm màng ngoài tim do mủ, lao hoặc do u). (Xem ‘Bệnh lý màng ngoài tim’ ở dưới.)
- Đối với bệnh nhân viêm màng ngoài tim, chúng tôi đề xuất điều trị ban đầu bằng thuốc chống viêm không steroid (NSAID) và/hoặc colchicine (0,5 đến 0,6 mg uống hai lần mỗi ngày), thay vì chỉ dùng đơn trị liệu glucocorticoid (Khuyến cáo 2C). Ở những bệnh nhân kháng trị, chúng tôi thay thế bằng glucocorticoid liều thấp (0,5 mg/kg/ngày, giảm liều dần trong hai đến ba tuần). Những bệnh nhân viêm màng ngoài tim tái phát và nặng trong bối cảnh SLE đang hoạt động thường cần thêm liệu pháp ức chế miễn dịch tiết kiệm glucocorticoid (ví dụ: azathioprine, mycophenolate mofetil hoặc belimumab). (Xem ‘Diễn tiến và điều trị’ ở dưới và “Viêm màng ngoài tim cấp tính: Điều trị và tiên lượng”, phần ‘Colchicine’.)
- Viêm cơ tim trong SLE có thể diễn tiến âm thầm hoặc gây nhịp tim nhanh khi nghỉ, đau ngực, khó thở, bóng tim to, suy tim, bất thường dẫn truyền và/hoặc loạn nhịp tim. MRI tim đang nổi lên như một kỹ thuật hữu ích để xác định tình trạng viêm cơ tim liên quan đến SLE; trong một số ít trường hợp, bệnh nhân có thể cần sinh thiết nội mạc cơ tim để loại trừ các nguyên nhân gây viêm cơ tim khác, đặc biệt là độc tính trên tim liên quan đến việc sử dụng hydroxychloroquine kéo dài. (Xem ‘Viêm cơ tim’ ở dưới.)
- Đối với bệnh nhân viêm cơ tim do lupus, chúng tôi đề xuất điều trị ban đầu bằng glucocorticoid liều cao (Khuyến cáo 2C). Phác đồ điển hình là prednisone 1 mg/kg (hoặc tương đương) đường tĩnh mạch hoặc đường uống mỗi ngày trong ba ngày, sau đó giảm liều dần sang prednisone đường uống. Chúng tôi cũng thường khởi đầu bằng một thuốc tiết kiệm glucocorticoid, chẳng hạn như mycophenolate mofetil, cyclophosphamide hoặc azathioprine. Những bệnh nhân suy tim cần được điều trị thêm tình trạng rối loạn chức năng thất. (Xem ‘Điều trị viêm cơ tim’ ở dưới.)
- Loạn nhịp tim được báo cáo là có tỷ lệ rất cao ở bệnh nhân SLE. Các loại loạn nhịp và bất thường điện tâm đồ thường gặp nhất ở nhóm bệnh nhân SLE là nhịp xoang nhanh, rung nhĩ và kéo dài khoảng QT. Đây có thể là dấu hiệu của viêm cơ tim do lupus hoặc do tác dụng của thuốc, đặc biệt là thuốc kháng malaria. (Xem ‘Loạn nhịp tim’ ở dưới và “Thuốc kháng malaria trong điều trị bệnh lý thấp khớp”, phần ‘Điện tâm đồ ở một số bệnh nhân được chọn’.)
