Viêm phổi quá mẫn (viêm phế nang dị ứng ngoại lai): Điều trị, tiên lượng và phòng ngừa

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Loại bỏ kháng nguyên cho tất cả bệnh nhân

  • Khuyến khích mạnh mẽ bệnh nhân viêm phổi tăng mẫn cảm (HP), đặc biệt là những người có bệnh tiến triển, cần tuyệt đối tránh tiếp tục phơi nhiễm với (các) kháng nguyên gây bệnh. Một trường hợp ngoại lệ là những bệnh nhân có bệnh cấp tính và đáp ứng hồi phục nhanh sau khi loại bỏ yếu tố khởi phát ban đầu; những đối tượng này có thể có diễn tiến ổn định dù tiếp tục tiếp xúc với kháng nguyên ở mức độ thấp. (Xem ‘Loại bỏ kháng nguyên’ ở dưới.)

Điều trị HP cấp tính và bán cấp

Triệu chứng nhẹ hoặc không thường xuyên

  • Đối với bệnh nhân HP cấp tính có triệu chứng nhẹ hoặc không thường xuyên, kết quả đo chức năng hô hấp (PFT) bình thường hoặc biến đổi tối thiểu, việc loại bỏ kháng nguyên gây bệnh thường dẫn đến sự thuyên giảm các triệu chứng và hồi phục các bất thường chức năng phổi. (Xem ‘Loại bỏ kháng nguyên’ ở dưới.)

Bệnh lý mức độ trung bình đến nặng

  • Đối với bệnh nhân HP cấp tính hoặc bán cấp có triệu chứng, chức năng phổi suy giảm và hình ảnh bệnh phổi lan tỏa trên phim cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT) nhưng không có bằng chứng nhiễm trùng, ngoài việc loại bỏ kháng nguyên, chúng tôi đề nghị sử dụng một đợt glucocorticoid đường uống. Khuyến cáo này dựa trên các bằng chứng hạn chế cho thấy liệu pháp này sẽ giúp rút ngắn thời gian triệu chứng (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Glucocorticoid’ ở dưới.)

Liều khởi đầu thông thường tương đương với prednisone 30 mg mỗi ngày (0,5 mg/kg ở bệnh nhân dưới 60 kg); duy trì liều khởi đầu trong 1 đến 2 tuần.

Khi bệnh nhân cải thiện triệu chứng, prednisone sẽ được giảm liều dần trong 2 đến 4 tuần tiếp theo. Liệu pháp duy trì hiếm khi cần thiết, thường chỉ áp dụng khi bệnh nhân không thể tránh được kháng nguyên gây bệnh. (Xem ‘Glucocorticoid’ ở dưới.)

Điều trị HP mạn tính có xơ hóa

Các biện pháp chăm sóc chung

Bệnh mạn tính không tiến triển xơ hóa

  • Đối với bệnh nhân HP mạn tính hoặc HP thể xơ hóa không có tiến triển xơ hóa, chúng tôi đề nghị thử nghiệm sử dụng glucocorticoid đường uống thay vì chỉ theo dõi đơn thuần (Khuyến cáo 2C). Liều khởi đầu thông thường của glucocorticoid tương đương với prednisone 30 mg mỗi ngày (0,5 mg/kg ở bệnh nhân dưới 60 kg) trong 4 đến 8 tuần, sau đó giảm liều xuống 10 đến 20 mg mỗi ngày sau 3 tháng điều trị, và tiếp tục giảm liều dựa trên triệu chứng và chức năng phổi. Một lựa chọn thay thế hợp lý là không sử dụng glucocorticoid, đặc biệt nếu triệu chứng và suy giảm chức năng phổi ở mức độ nhẹ và không có các đặc điểm viêm. Đối với những bệnh nhân không có đặc điểm viêm khi bắt đầu thử nghiệm liệu pháp glucocorticoid, chúng tôi sẽ đánh giá lại sau 3 tháng và cắt nhanh prednisone nếu không có bằng chứng rõ ràng về lợi ích. (Xem ‘Glucocorticoid’ ở dưới.)

Azathioprine (AZA) và mycophenolate mofetil (MMF) đã được sử dụng với kết quả khả quan ở một số bệnh nhân HP mạn tính không đáp ứng với việc loại bỏ kháng nguyên và liệu pháp glucocorticoid toàn thân, tuy nhiên, dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng vẫn còn thiếu. (Xem ‘Các thuốc ức chế miễn dịch bổ sung’ ở dưới.)

HP mạn tính có tiến triển xơ hóa

HP mạn tính giai đoạn tiến triển

  • Ghép phổi là một lựa chọn cho các bệnh nhân HP mạn tính giai đoạn tiến triển được lựa chọn kỹ lưỡng và cho thấy tỷ lệ sống sót trung hạn rất tốt. Tái tiếp xúc với kháng nguyên có thể dẫn đến tái phát HP trên mảnh ghép. (Xem ‘Ghép phổi’ ở dưới.)

Tiên lượng

  • Đa số bệnh nhân HP cấp tính hoặc bán cấp có khả năng hồi phục chức năng phổi gần như hoàn toàn, đôi khi có thể mất vài năm sau khi ngừng tiếp xúc với tác nhân gây bệnh. Tuy nhiên, những bệnh nhân có mô bệnh học dạng xơ hóa hoặc không xác định được kháng nguyên khởi phát thường có tiên lượng kém hơn so với những người có mô bệnh học dạng viêm hoặc đã xác định rõ kháng nguyên. (Xem ‘Tiên lượng’ ở dưới.)

Giảm thiểu và phòng ngừa

  • Tỷ lệ mắc HP có thể giảm bằng cách hạn chế tiếp xúc với bụi nông nghiệp, các bioaerosol và hóa chất đã được biết hoặc xác định là tác nhân gây bệnh. Các phương pháp giảm phơi nhiễm bao gồm: giảm thiểu ô nhiễm vi sinh và độ ẩm dư thừa trong môi trường làm việc hoặc sinh hoạt, duy trì hệ thống thông gió đúng quy cách, và/hoặc sử dụng các thiết bị bảo hộ lao động. (Xem ‘Giảm thiểu và phòng ngừa’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here