TÓM TẮT
Dịch tễ học
- Ở bệnh nhân nhiễm HIV đang điều trị bằng thuốc kháng virus (ART), tỷ lệ mắc viêm phổi do vi khuẩn tương tự như ở người không nhiễm HIV. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Yếu tố nguy cơ
- Các yếu tố nguy cơ gây viêm phổi do vi khuẩn ở người nhiễm HIV bao gồm mức độ suy giảm miễn dịch, HIV chưa được kiểm soát, hút thuốc lá, sử dụng rượu và ma túy tiêm ch truyền, bệnh phổi nền, tiền sử viêm phổi do Pneumocystis jirovecii (PCP), suy dinh dưỡng, hoặc các nguyên nhân suy giảm miễn dịch khác (ví dụ: giảm bạch cầu trung tính, điều trị bằng corticosteroid). (Xem ‘Các yếu tố nguy cơ gây viêm phổi’ ở dưới.)
Nguyên nhân
- Streptococcus pneumoniae, Staphylococcus aureus và Haemophilus influenzae là các tác nhân vi khuẩn thường gặp nhất gây viêm phổi mắc phải cộng đồng ở nhóm bệnh nhân này. (Xem ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng
- Triệu chứng lâm sàng của viêm phổi do vi khuẩn ở bệnh nhân nhiễm HIV tương tự như ở bệnh nhân không nhiễm HIV. Nhiều bệnh nhân khởi phát đột ngột các triệu chứng sốt, rét run, ho khạc đờm, khó thở và đau ngực kiểu màng phổi. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán hình ảnh
- Biểu hiện X-quang ngực phổ biến nhất của viêm phổi do vi khuẩn ở bệnh nhân nhiễm HIV là tổn thương đông đặc phân thùy hoặc thùy phổi, mặc dù cũng có thể quan sát thấy các tổn thương thâm nhiễm lưới nốt lan tỏa hoặc thâm nhiễm rải rác từng thùy. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
Đánh giá chẩn đoán
- Việc đánh giá ban đầu khi nhập viện đối với bệnh nhân nhiễm HIV nghi ngờ viêm phổi nên bao gồm chụp X-quang ngực, xét nghiệm đờm, tổng phân tích tế bào máu ngoại vi (đếm số lượng bạch cầu) và cấy máu. (Xem ‘Đánh giá chẩn đoán và điều trị’ ở dưới.)
Cách ly đường hô hấp
- Cần xem xét cách ly đường hô hấp đối với các trường hợp nghi ngờ COVID-19, cúm hoặc lao cho đến khi có kết quả xét nghiệm phù hợp để loại trừ các bệnh lý này. (Xem ‘Bệnh nhân nội trú’ ở dưới.)
Điều trị
- Điều trị viêm phổi do vi khuẩn ở bệnh nhân nhiễm HIV tương tự như ở bệnh nhân không nhiễm HIV. Tuy nhiên, các bác sĩ lâm sàng cần cân nhắc PCP và lao trong chẩn đoán phân biệt ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ nhất định (ví dụ: số lượng tế bào CD4 <200 tế bào/$\text{microL}$, có yếu tố nguy cơ mắc lao). Cần đặc biệt chú ý đến bất kỳ phác đồ dự phòng kháng sinh nào mà bệnh nhân đang sử dụng khi quyết định lựa chọn phác đồ kháng sinh kinh nghiệm. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới.)
