TÓM TẮT
Dịch tễ học
- Bệnh nhân xơ gan mật nguyên phát (PBC) có nguy cơ loãng xương và gãy xương do nhiều yếu tố, bao gồm tuổi tác, tình trạng mãn kinh và tình trạng ứ mật dẫn đến thiếu hụt vitamin D. Tình trạng mật độ xương thấp thường gặp ở bệnh nhân PBC, với tỷ lệ ước tính dao động từ 20% đến 50%. So với quần thể chung, nguy cơ gãy xương tuyệt đối ở nhóm này cao hơn khoảng hai lần. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Đo mật độ khoáng xương
- Phần lớn bệnh nhân loãng xương không có các triệu chứng liên quan đến bệnh lý xương. Tại thời điểm chẩn đoán PBC, chúng tôi thực hiện đo mật độ khoáng xương cho những bệnh nhân PBC có ít nhất một yếu tố nguy cơ loãng xương bổ sung (bảng 1 và thuật toán 1). (Xem ‘Đo mật độ khoáng xương’ ở dưới.)
Xét nghiệm cận lâm sàng
- Đối với tất cả bệnh nhân PBC có khối lượng xương thấp, chúng tôi thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng sau đây như một phần của đánh giá ban đầu (xem ‘Xét nghiệm cận lâm sàng’ ở dưới):
- 25-hydroxyvitamin D (25[OH]D)
- Bộ sinh hóa máu đầy đủ (bao gồm canxi, phosphate, phosphatase kiềm, creatinine)
- Tổng phân tích tế bào máu
- Testosterone (ở nam giới)
Quản lý và điều trị
- Việc quản lý bệnh nhân PBC kèm loãng xương tương tự như đối với các bệnh nhân loãng xương khác:
- Nên áp dụng rộng rãi các biện pháp thay đổi lối sống nhằm giảm mất xương ở bệnh nhân PBC. Các biện pháp này bao gồm bổ sung đầy đủ canxi và vitamin D, tập thể dục, cai thuốc lá, tư vấn phòng ngừa té ngã và tránh sử dụng rượu bia quá mức. (Xem ‘Tiếp cận tổng thể’ ở dưới.)
- Đối với hầu hết bệnh nhân PBC có loãng xương, khuyến cáo sử dụng liệu pháp dược lý với bisphosphonate. Không nên sử dụng bisphosphonate đường uống cho bệnh nhân có rối loạn thực quản (ví dụ: giãn tĩnh mạch thực quản) hoặc những người không thể tuân thủ các yêu cầu về liều dùng (ví dụ: không thể duy trì tư thế thẳng đứng trong ít nhất 30 phút). Thay vào đó, những bệnh nhân này có thể được điều trị bằng liệu pháp bisphosphonate đường tĩnh mạch. (Xem ‘Bệnh nhân có chỉ định điều trị bằng thuốc’ ở dưới.)
