Áp xe âm hộ

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Đặc điểm giải phẫu

Áp-xe âm hộ thường khởi phát từ những ổ nhiễm trùng đơn thuần tại da hoặc các tổ chức dưới da, nằm nông hơn lớp mạc (fascia). (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Sự lan rộng của nhiễm trùng và hình thành áp-xe vùng âm hộ diễn ra thuận lợi do đặc tính lỏng lẻo của mô liên kết sợi ở các lớp dưới da, đồng thời do sự liên tục của các lớp mạc vùng âm hộ với vùng bẹn và thành bụng trước. (Xem ‘Đặc điểm giải phẫu’ ở dưới.)

Vi sinh học – Vùng da âm hộ là nơi cư trú của các vi sinh vật thường gặp trên da, trong âm đạo và trực tràng; nhiều trường hợp áp-xe âm hộ là tình trạng nhiễm trùng đa khuẩn. Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA) là tác nhân phổ biến nhất. (Xem ‘Vi sinh học’ ở dưới.)

Chẩn đoán – Chẩn đoán áp-xe âm hộ dựa trên khám lâm sàng khi phát hiện một khối sưng vùng âm hộ có dấu hiệu dao động, ấn đau, kèm theo đỏ da vùng xung quanh, có thể có phù nề và/hoặc xơ cứng (hình 1). Các dữ liệu hình ảnh học hoặc xét nghiệm không đóng góp nhiều vào giá trị chẩn đoán. (Xem ‘Chẩn đoán và đánh giá’ ở dưới.)

Xử trí

  • Đối với bệnh nhân có hệ miễn dịch bình thường với ổ nhiễm trùng nhỏ (<2 hoặc <3 cm), chúng tôi đề xuất điều trị bảo tồn (ví dụ: chườm ấm hoặc ngâm mông) (Khuyến cáo 2C). Những bệnh nhân này cũng được điều trị bằng kháng sinh (bảng 2). Một phương án hợp lý khác là chỉ khởi đầu kháng sinh nếu tổn thương không cải thiện sau hai ngày. Đối với bệnh nhân suy giảm miễn dịch (bao gồm cả bệnh nhân đái tháo đường), điều trị bảo tồn chỉ được áp dụng cho các ổ áp-xe quá nhỏ, không thể dẫn lưu. (Xem ‘Điều trị bảo tồn’ ở dưới.)
  • Đối với áp-xe âm hộ kích thước ≥2 hoặc ≥3 cm ở bệnh nhân có hệ miễn dịch bình thường và đối với bất kỳ ổ áp-xe âm hộ nào có thể dẫn lưu ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, chúng tôi đề xuất rạch dẫn lưu (Khuyến cáo 2C). Dịch áp-xe và mô hoại tử sau khi cắt lọc cần được gửi đi nuôi cấy và làm kháng sinh đồ. (Xem ‘Rạch dẫn lưu’ ở dưới.)
  • Với những bệnh nhân áp-xe âm hộ có các yếu tố nguy cơ thất bại điều trị hoặc nguy cơ lan rộng nhiễm trùng (có dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân, suy giảm miễn dịch, nghi ngờ áp-xe do MRSA (bảng 1), viêm mô tế bào diện rộng xung quanh, áp-xe kích thước >5 cm hoặc lan sang các khoang giải phẫu khác, hoặc áp-xe tái phát), chúng tôi đề xuất điều trị kháng sinh kết hợp với rạch dẫn lưu (Khuyến cáo 2C) (bảng 2). (Xem ‘Thuốc kháng khuẩn’ ở dưới.)
  • Các ổ áp-xe không đáp ứng hoặc tiến triển xấu hơn sau dẫn lưu cũng cần điều trị kháng sinh (bảng 2) và trong một số trường hợp cần cắt lọc thêm. (Xem ‘Liệu pháp kháng sinh sau dẫn lưu’ ở dưới.)

Biến chứng – Các biến chứng tiềm tàng của áp-xe âm hộ bao gồm tái phát áp-xe, nhiễm khuẩn huyết và viêm cân mạc hoại tử. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here