TÓM TẮT
Bài tiết protein bình thường và bất thường – Ở hầu hết người trưởng thành khỏe mạnh, lượng protein bài tiết qua nước tiểu dưới 150 mg/ngày. Tốc độ bài tiết albumin bình thường là dưới 20 mg/ngày. Tình trạng bài tiết albumin kéo dài từ 30 đến 300 mg/ngày được gọi là albumin niệu tăng mức độ trung bình (trước đây gọi là “microalbuminuria”). Bài tiết albumin kéo dài trên 300 mg/day được coi là protein niệu rõ rệt hoặc albumin niệu tăng nặng (trước đây gọi là “macroalbuminuria”). (Xem thêm ‘Bài tiết protein bình thường và bất thường’ ở dưới.)
Các thể protein niệu – Có bốn thể protein niệu cơ bản: protein niệu do cầu thận, do ống thận, do tràn và do sau thận (bảng 1). (Xem thêm ‘Các thể protein niệu’ ở dưới.)
Phát hiện protein niệu – Hiện có hai phương pháp bán định lượng để sàng lọc protein niệu ở bệnh nhân: sử dụng que thử nước tiểu (dipstick) và phương pháp kết tủa protein nước tiểu bằng acid sulfosalicylic (SSA). Nếu một trong hai kỹ thuật này gợi ý có protein niệu bất thường, cần tiến hành định lượng protein niệu. (Xem thêm ‘Que thử nước tiểu’ và ‘Xét nghiệm acid sulfosalicylic’ ở dưới.)
Định lượng protein niệu – Việc bài tiết protein trong nước tiểu có thể được đo dưới dạng protein toàn phần hoặc albumin. Có ba phương pháp để định lượng protein niệu:
- Thu thập nước tiểu 24 giờ.
- Tỷ số protein/creatinine nước tiểu ngẫu nhiên (UPCR).
- Tỷ số albumin/creatinine nước tiểu ngẫu nhiên (UACR).
UPCR và UACR ngẫu nhiên là các phương pháp được ưu tiên để ước tính lượng protein toàn phần và albumin bài tiết trong nước tiểu. Tuy nhiên, việc sử dụng mẫu nước tiểu ngẫu nhiên để định lượng protein niệu có hai hạn chế chính: UPCR và UACR chịu ảnh hưởng lớn bởi nồng độ creatinine nước tiểu (mẫu số trong tỷ số) và do đó phụ thuộc vào tổng lượng creatinine sản sinh hàng ngày; ngoài ra, lượng protein bài tiết qua nước tiểu có thể thay đổi trong ngày. (Xem thêm ‘Tỷ số protein/creatinine nước tiểu’ và ‘Tỷ số albumin/creatinine nước tiểu’ ở dưới.)
Tiếp cận bệnh nhân người lớn có protein niệu – Đánh giá ban đầu cho bệnh nhân có kết quả que thử protein nước tiểu dương tính bao gồm: khai thác bệnh sử tập trung, thăm khám lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng để xác định nguyên nhân tiềm tàng, từ đó quyết định xem có cần đánh giá sâu hơn hoặc chuyển chuyên khoa thận hay không (sơ đồ 1). (Xem thêm ‘Đánh giá ban đầu’ ở dưới.)
Chúng tôi sẽ chuyển bệnh nhân đến chuyên khoa thận để đánh giá và điều trị chuyên sâu trong các trường hợp sau:
- Có các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý bệnh lý cầu thận (ví dụ: nước tiểu có bọt, phù, tiểu máu đại thể, các triệu chứng toàn thân).
- Kết quả xét nghiệm nước tiểu gợi ý bệnh lý cầu thận (ví dụ: hồng cầu biến dạng [RBCs], đặc biệt là tế bào gai [acanthocytes]; trụ hồng cầu; bạch cầu [WBCs] hoặc trụ bạch cầu khi không có nhiễm trùng).
- Có bằng chứng suy giảm chức năng thận (tăng creatinine huyết thanh hoặc giảm mức lọc cầu thận ước tính [eGFR]).
Đối với những bệnh nhân không có triệu chứng kèm theo, không có dấu hiệu nước tiểu gợi ý bệnh lý cầu thận và chức năng thận bình thường, chúng tôi tiếp cận như sau (xem ‘Tất cả các bệnh nhân khác’ ở dưới):
- Nếu định lượng bằng UPCR hoặc UACR ngẫu nhiên cho thấy không có protein niệu bất thường: Chúng tôi coi kết quả que thử dương tính ban đầu là do protein niệu thoáng qua hoặc dương tính giả. Cần thực hiện lại xét nghiệm nước tiểu một hoặc hai lần nữa để xác nhận protein niệu không kéo dài. Nếu protein niệu vẫn xuất hiện trong các lần khám sau, bệnh nhân cần được đánh giá về tình trạng protein niệu kéo dài. (Xem thêm ‘Protein niệu thoáng qua’ ở dưới.)
- Nếu định lượng bằng UPCR hoặc UACR ngẫu nhiên cho thấy protein niệu bất thường và bệnh nhân dưới 30 tuổi: Chúng tôi loại trừ khả năng protein niệu tư thế (orthostatic proteinuria). Nếu chẩn đoán là protein niệu tư thế, chúng tôi theo dõi chức năng thận và protein niệu hàng năm để phát hiện sớm sự tiến triển. Nếu loại trừ được protein niệu tư thế, chúng tôi sẽ đánh giá bệnh nhân về tình trạng protein niệu đơn độc kéo dài. (Xem thêm “Protein niệu tư thế”.)
- Nếu định lượng bằng UPCR hoặc UACR ngẫu nhiên cho thấy protein niệu bất thường và bệnh nhân từ 30 tuổi trở lên: Chúng tôi xác định bệnh nhân có protein niệu đơn độc kéo dài. Những bệnh nhân này cần được chuyển đến chuyên khoa thận để đánh giá và điều trị thêm. (Xem thêm “Bệnh lý cầu thận: Đánh giá và chẩn đoán phân biệt ở người trưởng thành”.)
