TÓM TẮT
Định nghĩa – Albumin niệu tăng vừa (thuật ngữ mới thay cho “microalbuminuria”) được định nghĩa là tình trạng bài tiết albumin niệu kéo dài trong khoảng từ 30 đến 300 mg/ngày (20 đến 200 mcg/phút). Albumin niệu tăng nặng (thuật ngữ mới thay cho “macroalbuminuria”) là tình trạng bài tiết albumin trên 300 mg/ngày (200 mcg/phút). (Xem thêm mục ‘Giới thiệu và định nghĩa’ ở dưới.)
Dịch tễ học – Ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2, tỷ lệ hiện mắc albumin niệu tăng vừa sau 10 năm được báo cáo là từ 25% đến 40%. Một số bệnh nhân đã có albumin niệu tăng vừa ngay tại thời điểm chẩn đoán, điều này có thể do bệnh đái tháo đường chưa được phát hiện trước đó hoặc do một bệnh lý khác gây ra tình trạng này. (Xem thêm mục ‘Tỷ lệ hiện mắc’ ở dưới.)
Đối với đái tháo đường tuýp 2, albumin niệu tăng vừa liên quan đến việc tăng nguy cơ tim mạch, khả năng tiến triển thành albumin niệu tăng nặng và tăng tỷ lệ tử vong dài hạn. Tuy nhiên, tình trạng này có thể thoái triển về mức albumin niệu bình thường. Các yếu tố liên quan đến sự thoái triển bao gồm: thời gian albumin niệu tăng vừa ngắn, kiểm soát đường huyết tốt hơn, kiểm soát huyết áp tốt hơn và sử dụng thuốc ức chế men chuyển (ACE) hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB). (Xem thêm mục ‘Tử vong’ và ‘Thoái triển về mức albumin niệu bình thường’ ở dưới.)
Chiến lược xét nghiệm
Lựa chọn xét nghiệm – Chiến lược tầm soát ưu tiên cho albumin niệu tăng vừa là đo tỷ số albumin/creatinine trong nước tiểu từ một mẫu nước tiểu ngẫu nhiên. Giá trị từ 30 đến 300 mg/g creatinine (hoặc theo đơn vị SI là 3,4 đến 34 mg/mmol creatinine) gợi ý mức bài tiết albumin trong khoảng 30 đến 300 mg/ngày, và do đó, khả năng cao là có tình trạng albumin niệu tăng vừa. (Xem thêm mục ‘Tỷ số albumin/creatinine trong nước tiểu’ ở dưới.)
Tần suất xét nghiệm – Chúng tôi khuyến cáo đo tỷ số albumin/creatinine trong nước tiểu hàng năm cho bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2, mặc dù hiện chưa rõ liệu có nên tiếp tục xét nghiệm hàng năm đối với những bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc ARB hay không. Khi kết quả tỷ số tăng, cần xác nhận lại bằng ít nhất hai lần xét nghiệm bổ sung trong vòng 3 đến 6 tháng tiếp theo; chẩn đoán được xác lập khi có ít nhất hai trong ba mẫu xét nghiệm cho kết quả dương tính. (Xem thêm mục ‘Tầm soát’ ở dưới.)
Quản lý điều trị – Đối với bệnh nhân có albumin niệu tăng vừa kéo dài và huyết áp trên mức mục tiêu, chúng tôi đề nghị ưu tiên điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc ARB hơn là các thuốc hạ huyết áp khác (Khuyến cáo 2B). Các thuốc khác sẽ được phối hợp thêm khi cần thiết. Các vấn đề liên quan đến huyết áp mục tiêu ở bệnh nhân đái tháo đường được thảo luận riêng. (Xem thêm mục ‘Thuốc ức chế men chuyển và ARB’ ở dưới và “Điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường”.)
Dữ liệu hiện còn hạn chế và nhìn chung không cho thấy giá trị của việc điều trị albumin niệu tăng vừa bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc ARB ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 có huyết áp bình thường, vì chưa có thử nghiệm lâm sàng nào chỉ giới hạn trên những bệnh nhân có huyết áp nền dưới 135/85 mmHg. Ở những bệnh nhân này, khuyến cáo tập trung kiểm soát chặt chẽ đường huyết và lipid máu; việc ức chế hệ angiotensin không được chỉ định nếu chỉ nhằm mục đích giảm albumin niệu. (Xem thêm mục ‘Thuốc ức chế men chuyển và ARB’ ở dưới.)
Dự phòng cấp 1 albumin niệu – Có đủ bằng chứng để không khuyến cáo điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc ARB để dự phòng cấp 1 cho những bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 có bài tiết albumin bình thường và huyết áp bình thường. Ngoài ra, có bằng chứng cho thấy liệu pháp này không mang lại hiệu quả. (Xem thêm mục ‘Dự phòng cấp 1’ ở dưới.)
