TÓM TẮT
Dịch tễ học
Ung thư dương vật là bệnh lý hiếm gặp tại Hoa Kỳ, Châu Âu và các quốc gia phát triển khác, nhưng lại có tỷ lệ mắc cao hơn đáng kể tại các nước có nguồn lực hạn chế. (Xem ‘Dịch tễ học’ bên dưới).
Ung thư dương vật thường là bệnh lý ở nam giới lớn tuổi, với tỷ lệ mắc tăng dần theo độ tuổi. Tuy nhiên, bệnh vẫn có thể xuất hiện ở nam giới ở bất kỳ độ tuổi nào.
Yếu tố nguy cơ
- Các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc ung thư dương vật bao gồm các bệnh lý tại dương vật, hẹp bao quy đầu, béo phì và nhiễm virus u nhú ở người (HPV), cùng một số yếu tố khác. (Xem ‘Yếu tố nguy cơ’ bên dưới).
Giải phẫu bệnh của ung thư dương vật
Ung thư biểu mô tế bào vảy
- Ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) và các biến thể chiếm khoảng 95% các trường hợp ung thư dương vật, hiện được chia thành hai phân nhóm chính: liên quan đến HPV và không liên quan đến HPV. (Xem ‘Giải phẫu bệnh’ và ‘Ung thư biểu mô tế bào vảy’ bên dưới).
Phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch đánh giá sự biểu hiện p16 là một công cụ thực tế và đáng tin cậy để tầm soát tình trạng nhiễm HPV. (Xem ‘HPV’ bên dưới).
Tân sản trong biểu mô dương vật (PeIN) là tổn thương tiền ung thư của ung thư biểu mô tế bào vảy dương vật xâm lấn, đồng thời cũng được phân loại thành nhóm liên quan đến HPV và nhóm không liên quan đến HPV. Tất cả các tổn thương PeIN đều được xếp loại ác tính độ cao. (Xem ‘Tân sinh trong biểu mô dương vật’ bênบน).
Các bệnh lý ác tính khác
- Các bệnh ác tính khác có thể xuất hiện ở dương vật bao gồm ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC), sarcoma Kaposi và các sarcoma dương vật khác, u hắc tố ác tính, bệnh Paget ngoài vú, ung thư biểu mô niệu đạo và các tổn thương di căn. (Xem ‘Các bệnh ác tính khác’ bên dưới).
