TÓM TẮT
Điều trị ung thư đường tiết niệu trên khu trú
- Đối với bệnh nhân mắc ung thư biểu mô tuyến tế bào chuyển tiếp (trước đây gọi là ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp) đường tiết niệu trên (UTUC; bao gồm đài bể thận và niệu quản) mà không có bằng chứng di căn hoặc bướu lan tại chỗ không thể cắt bỏ, chúng tôi khuyến nghị phẫu thuật cắt bỏ (Khuyến cáo 1B). (Xem ‘Điều trị bệnh khu trú’ ở dưới).
Phương pháp phẫu thuật
- Đối với đa số bệnh nhân, phẫu thuật cắt bỏ thận – niệu quản kèm theo cắt một chóp bàng quang và niêm mạc bàng quang là phương pháp được ưu tiên. Đối với bệnh nhân có tổn thương độ mô học thấp ở niệu quản đoạn xa mà không có bằng chứng xâm lấn, phẫu thuật cắt đoạn kèm cắm lại niệu quản là lựa chọn ưu tiên. (Xem ‘Điều trị bệnh khu trú’ ở dưới).
- Sự xuất hiện thường xuyên của các bướu đa ổ đồng thời hoặc không đồng thời khiến cho việc thực hiện các phẫu thuật bảo tồn ít rộng rãi hơn trở thành chống chỉ định. (Xem ‘Phẫu thuật cắt bỏ thận và niệu quản’ ở dưới).
- Các phương pháp phẫu thuật mổ mở và phẫu thuật nội soi cho thấy độ an toàn và hiệu quả tương đương, với điều kiện có đủ năng lực chuyên môn và thực hiện cắt bỏ hoàn toàn đoạn niệu quản nội thành bàng quang kèm chóp bàng quang. (Xem ‘Phẫu thuật cắt bỏ thận và niệu quản qua nội soi so với mổ mở’ ở dưới).
Chỉ định phẫu thuật bảo tồn thận
- Đối với những bệnh nhân được lựa chọn kỹ càng, chúng tôi đề xuất phẫu thuật nội soi đường niệu bảo tồn thận thay vì cắt bỏ thận – niệu quản (Khuyến cáo 2B). (Xem ‘Phẫu thuật nội soi tiết niệu’ ở dưới).
- Những bệnh nhân đặc biệt phù hợp với phương pháp này bao gồm người có thận độc nhất, suy giảm chức năng thận, tổn thương hai bên, hoặc bệnh thận đặc hữu vùng Balkan. Bệnh nhân có bướu niệu quản hoặc bể thận độ mô học thấp, giai đoạn sớm cũng có thể là ứng viên cho phương pháp này, và chỉ nên áp dụng cho bệnh nhân có bướu độ mô học cao trong các trường hợp được lựa chọn rất khắt khe. (Xem ‘Lựa chọn bệnh nhân’ ở dưới).
- Các lựa chọn điều trị trong những trường hợp này bao gồm nội soi ngược dòng đài bể thận đơn thuần hoặc kết hợp với phẫu thuật cắt bỏ qua da thuận dòng. (Xem ‘Phẫu thuật nội soi tiết niệu’ ở dưới).
Mitomycin bơm đài bể thận
- Đối với bệnh nhân mới được chẩn đoán hoặc tái phát bướu độ mô học thấp mà không thể cắt bỏ hoàn toàn bướu, chúng tôi áp dụng mitomycin bơm đài bể thận như một phương pháp thay thế cho phẫu thuật cắt bỏ thận – niệu quản. (Xem ‘Bệnh độ ác tính thấp, không xâm lấn (Jelmyto)’ ở dưới).
Liệu pháp toàn thân hỗ trợ
- Đối với bệnh nhân có nguy cơ cao đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ thận – niệu quản, chúng tôi khuyến nghị hóa trị hỗ trợ bằng gemcitabine kết hợp thuốc gốc platinum thay vì theo dõi định kỳ (Khuyến cáo 1B), do phương pháp này giúp cải thiện thời gian sống không bệnh và thời gian sống còn toàn bộ (OS). Chúng tôi định nghĩa nguy cơ cao là bướu đã xâm lấn lớp cơ (từ giai đoạn pT2 trở lên) và/hoặc di căn hạch. (Xem ‘Hóa trị bổ trợ có chứa platinum’ ở dưới).
- Đối với những bệnh nhân đủ điều kiện dùng cisplatin (bảng 3), chúng tôi chỉ định bốn chu kỳ hóa trị hỗ trợ bằng gemcitabine kết hợp cisplatin (bảng 2). Đối với những trường hợp không đủ điều kiện dùng cisplatin, chúng tôi chỉ định bốn chu kỳ gemcitabine kết hợp carboplatin.
Điều trị UTUC di căn
- Đối với bệnh nhân UTUC di căn, chiến lược điều trị toàn thân áp dụng tương tự như đối với bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến tế bào chuyển tiếp bàng quang di căn. (Xem “Điều trị ung thư biểu mua tế bào chuyển tiếp di căn của bàng quang và đường tiết niệu”).
