TÓM TẮT
Tiêm chủng định kỳ phòng bạch hầu, uốn ván và ho gà trong thời thơ ấu và tuổi thiếu niên giúp bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh này cho đến khi trưởng thành, ngăn ngừa uốn ván sơ sinh và hạn chế lây truyền ho gà cho trẻ nhỏ — đối tượng có nguy cơ tử vong cao nhất. (Xem thêm mục ‘Hiệu lực và hiệu quả’ ở dưới.)
Chúng tôi đồng thuận với các khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Ủy ban Cố vấn về Thực hành Tiêm chủng (ACIP) về việc tiêm một liều nhắc lại vaccine chứa giải độc tố bạch hầu và uốn ván cho tất cả trẻ vị thành niên. (Xem thêm mục ‘Chỉ định’ ở dưới.)
Các chỉ định bổ sung đối với vaccine chứa giải độc tố bạch hầu và uốn ván cho trẻ từ 7 tuổi trở lên bao gồm:
- Xử trí vết thương (bảng 3)
- Mắc bệnh uốn ván hoặc bạch hầu (ngay cả khi đã tiêm chủng đầy đủ)
- Người tiếp xúc gần với bệnh nhân bạch hầu hoặc ho gà mà chưa được tiêm chủng hoặc tiêm chủng chưa đầy đủ
Các khuyến nghị về liều nhắc lại vaccine ho gà vô bào cho trẻ vị thành niên có sự khác biệt tùy theo khu vực địa lý. Các khuyến nghị và lịch tiêm chủng cụ thể cho từng quốc gia có thể tra cứu thông qua WHO và Trung tâm Phòng chống và Kiểm soát Dịch bệnh Châu Âu (ECDC). (Xem thêm mục ‘Chỉ định’ ở dưới.)
Tại Hoa Kỳ, Tdap liều 0,5 mL tiêm bắp (IM) được khuyến cáo tiêm định kỳ cho trẻ từ 11 đến 12 tuổi. Sau đó, mỗi 10 năm, mỗi cá nhân nên nhận một liều nhắc lại là Td 0,5 mL IM hoặc Tdap 0,5 mL IM. (Xem thêm mục ‘Từ 11 đến 12 tuổi’ ở dưới.)
Các nhóm đối tượng mục tiêu bổ sung cho vaccine Tdap tại Hoa Kỳ bao gồm (xem thêm mục ‘Chỉ định’ và ‘Hoa Kỳ’ ở dưới):
- Trẻ vị thành niên từ 13 tuổi trở lên chưa từng tiêm Tdap (tiêm chủng bù)
- Thiếu nữ mang thai (một liều duy nhất trong mỗi lần mang thai) (xem mục “Tiêm chủng trong thai kỳ”, phần ‘Tiêm phòng uốn ván, bạch hầu và ho gà”)
- Trẻ từ 7 đến 18 tuổi chưa tiêm phòng hoặc tiêm phòng chưa đầy đủ, đặc biệt là những trẻ dự kiến tiếp xúc gần với trẻ nhũ nhi dưới 12 tháng tuổi, hoặc có nguy cơ cao nhiễm ho gà hoặc gặp biến chứng của bệnh ho gà; Tdap nên được sử dụng cho ít nhất một liều trong phác đồ tiêm bù (ưu tiên là liều đầu tiên) (bảng 4)
Các chống chỉ định tuyệt đối, thận trọng và các tình trạng thường bị nhầm lẫn là chống chỉ định khi tiêm Tdap và Td được liệt kê trong bảng (bảng 5). (Xem thêm mục ‘Chống chỉ định và thận trọng’ ở dưới.)
Các phản ứng nhẹ tại chỗ (đau, đỏ, sưng) và toàn thân (sốt, đau đầu, mệt mỏi) là những biến cố bất lợi phổ biến nhất sau khi tiêm Tdap hoặc Td. Các phản ứng nghiêm trọng hơn bao gồm ngất và phản ứng kiểu Arthus. (Xem thêm mục ‘Phản ứng bất lợi’ ở dưới.)
