TÓM TẮT
Bối cảnh
Đau trực tràng kịch phát (proctalgia fugax) là một rối loạn chức năng hậu môn trực tràng, đặc trưng bởi các cơn đau trực tràng dữ dội, ngắt quãng và có tính chất tự giới hạn. (Xem ‘Đặt vấn đề’ ở dưới.)
Đau trực tràng kịch phát ảnh hưởng đến 4% đến 18% dân số nói chung. Tỉ lệ mắc bệnh ở nữ giới cao hơn so với nam giới. Mặc dù đau trực tràng đã được ghi nhận ở bệnh nhân trưởng thành trong độ tuổi từ 18 đến 87, nhưng bệnh thường gặp ở các cá nhân trong khoảng 30 đến 60 tuổi. Co thắt cơ thắt hậu môn, chèn ép dây thần kinh thẹn và bệnh lý thần kinh được cho là có liên quan đến cơ chế bệnh sinh của đau trực tràng kịch phát. (Xem ‘Dịch tễ học’ và ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng
Bệnh nhân đau trực tràng kịch phát có các đợt đau hậu môn trực tràng dữ dội tái diễn, có thể kéo dài từ vài giây đến vài phút, nhưng thời gian không quá 30 phút. Bệnh nhân không có triệu chứng giữa các đợt đau. Các cơn đau thường không xuất hiện thường xuyên; khoảng một nửa số bệnh nhân có ít hơn 5 đợt mỗi năm. Hầu hết các đợt đau không liên quan đến một tác nhân khởi phát rõ ràng nào. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán
Tiêu chuẩn Rome IV để chẩn đoán đau trực tràng kịch phát yêu cầu sự hiện diện của tất cả các tiêu chí sau trong vòng 3 tháng qua, với thời điểm khởi phát triệu chứng ít nhất 6 tháng trước khi chẩn đoán: các đợt đau tái diễn khu trú tại trực tràng, các đợt đau kéo dài từ vài giây đến vài phút (tối đa 30 phút), và không có đau hậu môn trực tràng giữa các đợt. Tiêu chuẩn Rome IV cũng yêu cầu loại trừ các nguyên nhân khác gây đau trực tràng và các biến đổi cấu trúc lớn của sàn chậu. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Đánh giá
Việc đánh giá bệnh nhân nghi ngờ đau trực tràng kịch phát nhằm mục đích loại trừ các nguyên nhân khác gây đau trực tràng và xác lập chẩn đoán. Chúng tôi tiến hành thăm khám trực tràng bằng ngón tay, khám tuyến tiền liệt ở nam giới và khám vùng chậu ở nữ giới. Ngoài ra, chúng tôi thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng thường quy và đánh giá nội soi bằng cách nội soi đại tràng hoặc nội soi đại tràng sigma mềm. Ở những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị ban đầu, chúng tôi chỉ định chụp cộng hưởng từ (MRI) bụng và vùng chậu. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ và ‘Đánh giá’ ở dưới.)
Điều trị và quản lý
Hầu hết bệnh nhân có triệu chứng nhẹ và ngắt quãng, không cần điều trị đặc hiệu ngoài việc trấn an và giải thích về tình trạng bệnh.
Đối với những bệnh nhân có triệu chứng nặng hoặc thường xuyên, chúng tôi đề xuất liệu pháp sàn chậu kết hợp phản hồi sinh học (Khuyến cáo 2C).
Đối với những bệnh nhân muốn giảm nhẹ triệu chứng, chúng tôi đề xuất sử dụng thuốc chẹn kênh canxi dùng tại chỗ (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Điều trị’ ở dưới.)
