TÓM TẮT
Nguyên tắc chung
- An thần mức độ tối thiểu hoặc trung bình là thích hợp cho hầu hết các thủ thuật nội soi không phức tạp (ví dụ: nội soi tiêu hóa trên chẩn đoán, nội soi đại tràng tầm soát). Mục tiêu của việc gây an thần trong thủ thuật nội soi tiêu hóa là làm giảm lo âu và đau cho người bệnh, nâng cao chất lượng cuộc nội soi và hạn chế ký ức của người bệnh về thủ thuật này. (Xem ‘Nguyên tắc chung’ ở dưới).
- Đối với tất cả người bệnh thực hiện nội soi tiêu hóa, cần khai thác tiền sử bệnh và khám lâm sàng tập trung trước khi tiến hành truyền thuốc an thần tĩnh mạch. Mục tiêu của việc đánh giá trước khi an thần là xác định các bệnh lý nền có thể làm tăng nguy cơ và xây dựng kế hoạch an thần nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ, đồng thời kiểm soát tốt các bệnh lý đi kèm. (Xem ‘Mục tiêu’ ở dưới).
Chỉ định hội chẩn gây mê
- Việc hội chẩn với bác sĩ gây mê để thực hiện an thần cho nội soi tiêu hóa thường được chỉ định khi người bệnh hoặc thủ thuật có bất kỳ đặc điểm nào sau đây (xem mục ‘Hội chẩn gây mê’ ở dưới):
- Phân loại tình trạng thể chất của Hiệp hội Gây mê Hồi sức Hoa Kỳ (ASA) từ độ IV trở lên
- Tiền sử đặt nội khí quản khó
- Tiên lượng đường thở khó dựa trên thăm khám đường thở (xem mục ‘Khám lâm sàng tập trung’ ở dưới)
- Tiền sử có phản ứng bất lợi có ý nghĩa huyết động đối với thuốc an thần (ví dụ: giảm oxy huyết)
- Tiền sử không dung nạp với các thủ thuật thực hiện dưới mức an thần trung bình
- Tiền sử hoặc đang sử dụng rượu hoặc chất gây nghiện
- Béo phì độ III (tức là chỉ số khối cơ thể [BMI] $ge 40text{ kg/m}^2$)
- Tăng nguy cơ tắc nghẽn đường thở (ví dụ: hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn nặng)
- Chỉ định nội soi cấp cứu (ví dụ: người bệnh đang chảy máu tiêu hóa hoạt động và có nguy cơ sặc cao)
- Thủ thuật phức tạp và/hoặc điều trị (ví dụ: nội soi mật tụy ngược dòng, siêu âm nội soi)
Quản lý an thần
Theo dõi
- Đối với người bệnh thực hiện thủ thuật nội soi có dùng thuốc an thần đường tĩnh mạch, việc theo dõi bao gồm quan sát trực quan, theo dõi huyết động (ví dụ: nhịp tim, huyết áp), đo độ bão hòa oxy qua mạch máu (pulse oximetry) và thường kết hợp đo nồng độ khí carbon dioxide cuối kỳ thở ra (capnography). Mục tiêu của theo dõi là phát hiện sớm các thay đổi về mạch, huyết áp, tình trạng thông khí, hoạt động điện tim và mức độ an thần để có thể xử trí kịp thời trước khi xảy ra biến cố tim mạch – hô hấp nghiêm trọng. (Xem ‘Theo dõi’ ở dưới).
Thuốc an thần và giảm đau
- Đối với người bệnh thực hiện thủ thuật nội soi với mức an thần tối thiểu hoặc trung bình do bác sĩ nội soi trực tiếp thực hiện, phác đồ dùng thuốc thông thường là sự kết hợp giữa midazolam (để giảm lo âu) và fentanyl (để giảm đau) (bảng 4). (Xem ‘Thuốc an thần và thuốc giảm đau’ ở dưới).
Biến cố bất lợi
- An thần trong thủ thuật nội soi tiêu hóa nhìn chung dung nạp tốt nhưng vẫn có thể xảy ra các biến cố bất lợi (ví dụ: suy hô hấp). Các vấn đề này được bàn luận chi tiết ở phần riêng. (Xem “Các biến cố bất lợi liên quan đến an thần thủ thuật trong nội soi tiêu hóa ở người lớn”).
Chăm sóc sau thủ thuật
- Tác dụng dược lý của các thuốc dùng để an thần/giảm đau thường kéo dài hơn thời gian thực hiện thủ thuật nội soi. Việc theo dõi và thở oxy hỗ trợ vẫn được duy trì trong suốt quá trình người bệnh hồi phục sau tác dụng của thuốc. Những người bệnh đã hồi phục hoàn toàn (tức là tự thở mà không cần bất kỳ hình thức hỗ trợ đường thở nào, tỉnh táo, nói chuyện được, đáp ứng phù hợp với các mệnh lệnh và huyết động ổn định) có thể được chuẩn bị xuất viện. (Xem ‘Chăm sóc sau thủ thuật’ ở dưới).
Gây mê do bác sĩ gây mê thực hiện
- Quản lý gây mê cho nội soi tiêu hóa do bác sĩ gây mê thực hiện, bao gồm việc sử dụng các biện pháp chăm sóc gây mê có theo dõi (MAC), propofol, an thần sâu và gây mê toàn thân, được bàn luận chi tiết ở phần riêng. (Xem “Gây mê cho nội soi tiêu hóa ở người lớn”).