TÓM TẮT
Chỉ định
Kiểm soát chảy máu đường tiêu hóa (TIH) bằng can thiệp mạch được chỉ định cho các bệnh nhân chảy máu tiêu hóa trên hoặc dưới không đáp ứng với điều trị nội khoa và/hoặc nội soi. Đối với chảy máu tiêu hóa trên, can thiệp mạch thường được xem xét nếu các nỗ lực cầm máu qua nội soi thất bại. Đối với chảy máu tiêu hóa dưới, can thiệp mạch được sử dụng như một phương pháp thay thế phẫu thuật ở những bệnh nhân không ổn định về huyết động kèm chảy máu nặng, hoặc ở những bệnh nhân đang chảy máu hoặc chảy máu tái phát sau các nỗ lực cầm máu qua nội soi. (Xem ‘Chỉ định’ ở dưới.)
Các phương pháp can thiệp mạch
Các phương pháp can thiệp mạch bao gồm sử dụng các tác nhân để gây tắc cơ học nguồn cấp máu của tổn thương đang chảy máu (nút mạch) hoặc truyền thuốc co mạch vasopressin. Việc sử dụng vasopressin đã giảm đáng kể nhờ hiệu quả và độ an toàn của liệu pháp nội soi cũng như kỹ thuật nút mạch. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn có thể được áp dụng trong một số trường hợp chọn lọc khi không thể thực hiện nút mạch hoặc nút mạch không thành công. (Xem ‘Các phương pháp can thiệp mạch’ ở dưới.)
Nút mạch
- Các tác nhân được sử dụng để nút mạch bao gồm xốp gelatin tự tiêu, các hạt polyvinyl alcohol, các tác nhân dạng lỏng như keo (glue) và ethylene-vinyl alcohol copolymer, và các vòng xoắn kim loại (coils). (Xem ‘Nút mạch’ ở dưới.)
- Nút mạch qua ống thông siêu chọn lọc bằng microcoil là lựa chọn điều trị nội mạch hàng đầu cho chảy máu tiêu hóa dưới. Điều trị nội mạch trong chảy máu tiêu hóa trên thường được thực hiện bằng cách phối hợp giữa các vòng xoắn (coils), xốp gelatin và/hoặc các hạt tắc mạch.
- Các biến chứng của nút mạch bao gồm các biến chứng liên quan đến bản thân thủ thuật chụp mạch (ví dụ: khối máu tụ, huyết khối động mạch, bóc tách động mạch, thuyên tắc và hình thành giả phình mạch) và nhồi máu ruột. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)
Vasopressin
Vasopressin gây co mạch toàn thân thông qua tác động trực tiếp lên thành mạch, đặc biệt là các tiểu động mạch, mao mạch và tiểu tĩnh mạch. Mục tiêu là làm giảm áp lực tưới máu để tạo điều kiện cho việc hình thành cục máu đông ổn định tại vị trí chảy máu. (Xem ‘Vasopressin trong động mạch’ ở dưới.)
Vì vasopressin gây co mạch ngoại biên, cần thận trọng khi sử dụng cho bệnh nhân bệnh động mạch vành, bệnh cơ tim sung huyết, tăng huyết áp nặng hoặc bệnh mạch máu ngoại biên nặng. Thuốc cũng có thể gây loạn nhịp tim và giữ nước dẫn đến hạ natri máu. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)
Hiệu quả
Việc cầm máu ban đầu có thể đạt được ở tối đa 95% bệnh nhân có khả năng can thiệp mạch về mặt kỹ thuật, nhưng chảy máu tái phát là một vấn đề phổ biến, xảy ra ở tới 56% bệnh nhân. (Xem ‘Kết cục’ ở dưới.)
