TÓM TẮT
Nguyên tắc chung và tiên lượng
- Ung thư túi mật (GBC) từ trước đến nay thường có tiên lượng xấu. Điều này thường do bệnh được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển, hệ quả từ các triệu chứng mơ hồ, không điển hình và vị trí giải phẫu của túi mật. Khác với những bệnh nhân có diện cắt dương tính (thường có xu hướng tái phát tại chỗ hoặc tại vùng), mô hình tái phát sau khi đã cắt bỏ hoàn toàn GBC bao gồm cả tái phát xa và tái phát tại chỗ. (Xem ‘Tiên lượng và các kiểu lan rộng’ ở dưới.)
Điều trị bổ trợ
- Đối với bệnh nhân GBC đã được cắt bỏ hoàn toàn nhưng có xâm lấn cơ (≥T1b), di căn hạch, hoặc diện cắt dương tính, chúng tôi đề nghị điều trị bổ trợ (Khuyến cáo 2C). Chúng tôi thường không chỉ định điều trị bổ trợ cho bệnh nhân có khối u T1a đã được cắt bỏ và âm tính với hạch, vì những bệnh nhân này không nằm trong tiêu chuẩn lựa chọn của các thử nghiệm BILCAP hoặc Southwest Oncology Group (SWOG). Những bệnh nhân này có thể chuyển sang theo dõi sau điều trị. (Xem ‘Điều trị bổ trợ’ ở dưới.)
Hóa trị bổ trợ
- Hiện chưa có sự thống nhất về phương pháp bổ trợ tối ưu. Do tỷ lệ tái phát xa cao, đặc biệt là sau khi đã cắt bỏ hoàn toàn, cùng với kết quả từ thử nghiệm giai đoạn III BILCAP, chúng tôi ưu tiên lựa chọn hóa trị đơn trị liệu bằng capecitabine trong 6 tháng sau phẫu thuật cho hầu hết bệnh nhân. Nếu chọn capecitabine, chúng tôi sẽ bắt đầu điều trị với tổng liều không quá 1500 mg, chia làm hai lần mỗi ngày. (Xem ‘Hóa trị bổ trợ’ ở dưới.)
Hóa xạ trị bổ trợ
- Một phương pháp thay thế là kết hợp hóa xạ trị đồng thời dựa trên fluoropyrimidine với 4 tháng hóa trị toàn thân, phương pháp này cũng có thể chấp nhận được, đặc biệt đối với bệnh nhân có diện cắt dương tính. Trong trường hợp này, có thể lựa chọn hóa trị đơn trị liệu bằng capecitabine hoặc capecitabine kết hợp với gemcitabine (ví dụ như đã được sử dụng trong nghiên cứu SWOG S0809 (bảng 2)). (Xem ‘Hóa xạ trị bổ trợ’ ở dưới và “Phác đồ điều trị ung thư gan mật”.)
Hóa xạ trị bổ trợ kết hợp với hóa trị kiểu “sandwich”
- Đối với bệnh nhân được chỉ định hóa xạ trị kết hợp với hóa trị bổ trợ, phương pháp tích hợp tối ưu giữa hai liệu pháp này vẫn chưa được xác định rõ. Nhìn chung, ưu tiên bắt đầu bằng hóa trị trước, hoàn thành từ 3 đến 4 tháng điều trị toàn thân; lập luận cho phương pháp này là nhằm tránh việc phải thực hiện xạ trị (RT) cho những bệnh nhân có nguy cơ cao tiến triển di căn xa sớm mà có thể không thực sự cần đến xạ trị. (Xem ‘Lựa chọn phác đồ’ ở dưới và ‘Hóa trị bổ trợ so với hóa xạ trị bổ trợ’ ở dưới.)
Theo dõi sau điều trị
- Chưa có dữ liệu ủng hộ việc theo dõi sau điều trị quá mức. Chúng tôi theo dõi sát bệnh nhân bằng các xét nghiệm chức năng gan và các dấu ấn ung thư (kháng nguyên carcinoembryonic [CEA] và kháng nguyên ung thư 19-9 [CA 19-9]) định kỳ mỗi 3 đến 4 tháng trong 2 năm đầu sau phẫu thuật, sau đó là mỗi 6 tháng một lần trong thêm 1 năm tiếp theo. Việc tái chẩn đoán hình ảnh chỉ được thực hiện khi có chỉ định lâm sàng. (Xem ‘Theo dõi sau điều trị’ ở dưới.)
