TÓM TẮT
Phổ bệnh lý
- Biểu hiện lâm sàng của bệnh nấm blastomyces rất đa dạng, bao gồm nhiễm trùng không triệu chứng, viêm phổi cấp hoặc mạn tính, và bệnh lý ngoài phổi. Mặc dù nấm blastomyces được ghi nhận có thể ảnh hưởng đến hầu hết mọi cơ quan, phổi là cơ quan hay gặp nhất. (Xem ‘Phổ bệnh lý’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng
- Hầu hết bệnh nhân biểu hiện viêm phổi mạn tính. Bệnh lý ngoài da là biểu hiện phổ biến thứ hai, đặc trưng bởi các tổn thương sùi dạng mụn cóc (Xem hình 2, hình 3 và hình 4), tổn thương loét (Xem hình 5 và hình 6), hoặc các nốt dưới da (Xem hình 7). Viêm tủy xương là biểu hiện ngoài phổi phổ biến tiếp theo. (Xem các phần ‘Viêm phổi mạn tính’, ‘Da’ và ‘Xương và khớp’ ở dưới.)
Khi nào cần nghi ngờ nhiễm nấm blastomyces
- Cần nghi ngờ bệnh nấm blastomyces ở bệnh nhân sinh sống hoặc mới đi du lịch (trong vòng 2 đến 3 năm qua) đến vùng lưu hành nấm Blastomyces và có ít nhất một trong các đặc điểm sau 56:
- Viêm phổi mắc phải cộng đồng chưa rõ nguyên nhân, không đáp ứng với một đợt điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm.
- Viêm phổi mắc phải cộng đồng kèm theo các tổn thương da.
- Các tổn thương da đặc trưng (Xem hình 2, hình 3, hình 4, hình 5 và hình 6).
- Các biểu hiện lâm sàng phù hợp với bệnh nấm blastomyces ngoài phổi (ví dụ: viêm tủy xương, viêm mào tinh hoàn, viêm tiền liệt tuyến, áp xe não) nhưng cấy vi khuẩn âm tính và không đáp ứng với điều trị ban đầu.
- Các tổn thương hình ảnh học ở phổi và/hoặc xương nghi ngờ ác tính, nhiễm vi khuẩn nhanh (bao gồm bệnh lao), hoặc các bệnh nhiễm trùng lưu hành địa phương khác (ví dụ: bệnh nấm histoplasma, bệnh nấm coccidioides).
- Sự hiện diện của các u hạt ưu thế bạch cầu trung tính trên mô bệnh học (xem ‘Khi nào cần nghi ngờ nhiễm nấm blastomyces’ ở dưới).
Xét nghiệm ban đầu
- Khi nghi ngờ nhiễm nấm blastomyces, chúng tôi chỉ định xét nghiệm kháng nguyên trong nước tiểu cũng như bất kỳ mẫu bệnh phẩm hô hấp nào có sẵn (ví dụ: đờm, dịch rửa phế quản-phế nang [BAL]), dịch hút khác, hoặc mô sinh thiết để soi tươi, cấy nấm và làm mô bệnh học. (Xem ‘Xét nghiệm ban đầu’ ở dưới.)
Xác định chẩn đoán
- Chẩn đoán xác định đòi hỏi phải nuôi cấy hoặc quan sát thấy vi nấm từ bệnh phẩm lâm sàng. Nếu bệnh nhân đang trong tình trạng nặng và bức tranh lâm sàng phù hợp với bệnh nấm blastomyces, kết quả xét nghiệm kháng nguyên nước tiểu dương tính có thể là cơ sở để bắt đầu điều trị kháng nấm theo kinh nghiệm. (Xem ‘Xác định chẩn đoán’ ở dưới.)
Đánh giá sau chẩn đoán
- Chúng tôi chụp X-quang ngực và đo nồng độ kháng nguyên nước tiểu nền cho tất cả bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh nấm blastomyces. Ở những bệnh nhân có các dấu hiệu hoặc triệu chứng thần kinh (ví dụ: đau đầu, dị cảm), chúng tôi chỉ định chụp cộng hưởng từ (MRI) não có cản từ và chọc dò thắt lưng để đánh giá tình trạng tổn thương hệ thần kinh trung ương (CNS). (Xem ‘Đánh giá sau chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt
- Cả bệnh nấm blastomyces cấp tính và mạn tính thường giống với các bệnh lý khác. Bệnh nấm blastomyces phổi cấp tính có thể ban đầu bị chẩn đoán nhầm là viêm phổi do vi khuẩn hoặc virus mắc phải cộng đồng, trong khi viêm phổi mạn tính do blastomyces thường bị nghĩ nhiều nhất là ác tính hoặc lao. Nhiễm trùng cấp tính thường không được nhận biết trừ khi liên quan đến một chùm ca bệnh. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
