TÓM TẮT
Cơ chế và biểu hiện lâm sàng – Gãy xương đốt ngón gần thường do tác động trực tiếp, lực xoay hoặc quá duỗi đốt ngón. Khi thăm khám bàn tay tổn thương, cần đánh giá kỹ các dấu hiệu biến dạng, tổn thương mạch máu – thần kinh, điểm đau khu trú và rối loạn chức năng gân. Một số trường hợp có thể xuất hiện tình trạng gập góc, ngắn chi hoặc xoay trục. (Xem thêm ‘Cơ chế chấn thương’ và ‘Biểu hiện lâm sàng và thăm khám thực thể’ ở dưới.)
Chẩn đoán hình ảnh và nguy cơ biến dạng – Gãy xương đốt ngón gần thường không ổn định, có nguy cơ cao gây gập góc, xoay trục và ngắn chi. Cần phân tích kỹ phim X-quang để phát hiện các biến dạng này. (Xem thêm ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
Chỉ định chuyển chuyên khoa phẫu thuật – Cần hội chẩn ngay với phẫu thuật viên bàn tay hoặc chấn thương chỉnh hình đối với tất cả các trường hợp gãy xương hở hoặc gãy xương kèm tổn thương gân, thần kinh. Đồng thời, chuyển tuyến đối với các trường hợp gãy nội khớp, gãy không ổn định, gãy xoay trục, ngắn chi hoặc gập góc nghiêm trọng. (Xem thêm ‘Chỉ định chuyển tuyến’ ở dưới.)
Xử trí – Phương pháp điều trị tùy thuộc vào tính chất của tổn thương:
- Gãy xương đốt ngón gần không di lệch, ổn định: Điều trị bằng bất động bằng nẹp kết hợp băng cố định cùng ngón kề (buddy taping) hoặc chỉ dùng nẹp đơn thuần.
- Gãy ngang gập góc: Thường có xu hướng gập góc đỉnh hướng về phía lòng bàn tay. Phương pháp nắn chỉnh kín trong những trường hợp này thường đem lại kết quả căn chỉnh thỏa đáng.
- Gãy xương đốt ngón gần có di lệch: Thường được điều trị bằng nẹp máng (gutter splint) hoặc nẹp Burkhalter cho đến khi xương bắt đầu liền (thường là 3 đến 4 tuần sau chấn thương), sau đó chuyển sang băng cố định cùng ngón kề trong thêm 3 đến 4 tuần.
- Trong một số trường hợp, nẹp động có thể được sử dụng để điều trị gãy xương đốt ngón gần ngoài khớp và ổn định, giúp giảm tình trạng cứng khớp liên đốt xa (DIP) và khớp liên đốt gần (PIP). (Xem thêm ‘Điều trị ban đầu’ và ‘Điều trị triệt để và theo dõi’ ở dưới.)
