TÓM TẮT
Bối cảnh
- Trào ngược phi axit là tình trạng trào ngược dịch vị có độ pH > 4,0. (Xem ‘Thuật ngữ’ ở dưới).
- Ước tính có khoảng 40% bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản (GERD) vẫn còn triệu chứng dai dẳng mặc dù đã dùng thuốc ức chế bơm proton (PPI), và qua các xét nghiệm khách quan, khoảng 40% trong số này mắc chứng trào ngược phi axit có triệu chứng. (Xem ‘Địch tễ học’ ở dưới).
Sinh bệnh học
- Các đợt trào ngược phi axit chủ yếu xảy ra trong giai đoạn sau khi ăn, do hiện tượng giãn cơ thắt thực quản dưới thoáng qua xuất hiện thường xuyên hơn sau bữa ăn làm căng phồng đáy vị. Thành phần và mức độ lan lên phía trên của dịch trào ngược là những yếu tố quyết định quan trọng việc các đợt trào ngược có gây triệu chứng hay không. (Xem ‘Sinh bệnh học’ ở dưới).
Đặc điểm lâm sàng
- Hầu hết các đợt trào ngược phi axit không gây ra triệu chứng. Bệnh nhân trào ngược phi axit có triệu chứng thường biểu hiện bằng chứng ợ nóng và/hoặc ợ trớ mặc dù đang điều trị bằng thuốc ức chế axit. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới).
Đánh giá chẩn đoán
- Cần nghi ngờ trào ngược phi axit ở bệnh nhân GERD kháng trị với liệu pháp ức chế axit tối đa (ví dụ: dùng PPI 2 lần mỗi ngày). Bệnh nhân nghi ngờ trào ngược phi axit cần được nội soi thực quản dạ dày tá tràng kèm sinh thiết để loại trừ các chẩn đoán phân biệt (ví dụ: viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan). Phương pháp đo đa kênh trở kháng kết hợp độ pH (MII-pH) là cần thiết để xác lập chẩn đoán trào ngược phi axit. Dịch trào ngược có pH > 4 ở bệnh nhân có ít nhất một nửa số triệu chứng liên quan đến trào ngược được coi là chẩn đoán xác định trào ngược phi axit. (Xem ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới).
- Chúng tôi thực hiện đo áp lực thực quản ở những bệnh nhân có triệu chứng khó nuốt và/hoặc đau ngực nhằm loại trừ co thắt tâm vị và các rối loạn vận động thực quản khác, cũng như ở những bệnh nhân có triệu chứng kháng trị đang được cân nhắc phẫu thuật. (Xem ‘Đo áp lực thực quản ở những bệnh nhân được chỉ định’ ở dưới).
Quản lý và điều trị
- Cần củng cố việc thay đổi lối sống, chế độ ăn uống và tuân thủ điều trị PPI ở tất cả bệnh nhân trào ngược phi axit. Ở những bệnh nhân không đáp ứng với các can thiệp lối sống và liệu pháp PPI, chúng tôi đề xuất sử dụng liệu pháp ức chế trào ngược (Khuyến cáo 2C). Chúng tôi sử dụng liệu pháp bổ trợ với liều thấp baclofen (5 đến 10 mg, uống 2 lần mỗi ngày trước bữa ăn). Ở những bệnh nhân không đáp ứng, chúng tôi tăng dần liều trong khi theo dõi các tác dụng phụ. (Xem ‘Thuốc ức chế trào ngược’ và ‘Củng cố việc thay đổi lối sống và tuân thủ điều trị PPI’ ở dưới).
- Cách tiếp cận quản lý tiếp theo phụ thuộc vào đáp ứng triệu chứng với điều trị. Ở những bệnh nhân có đáp ứng triệu chứng với liệu pháp ức chế trào ngược, chúng tôi tiến hành giảm liều PPI và nếu có thể, ngừng thuốc trong khoảng thời gian từ 4 đến 8 tuần. (Xem ‘Quản lý tiếp theo’ ở dưới).
- Ở những bệnh nhân có triệu chứng trào ngược phi axit kháng trị mặc dù đã điều trị nội khoa, trong đó chẩn đoán được xác định bằng theo dõi MII-pH kèm theo mối liên quan triệu chứng dương tính, chúng tôi đề xuất phẫu thuật tạo hình nếp fundoplication theo phương pháp Nissen qua nội soi ổ bụng (Khuyến cáo 2C). Bệnh nhân phải được tư vấn về dữ liệu còn hạn chế hỗ trợ phẫu thuật tạo hình nếp fundoplication qua nội soi và sự khó khăn trong việc dự đoán bệnh nhân nào sẽ đáp ứng với phẫu thuật này. (Xem ‘Bệnh nhân có triệu chứng kháng trị’ ở dưới và “Điều trị ngoại khoa trào ngược dạ dày thực quản ở người lớn”, mục ‘Kỹ thuật phẫu thuật’).
