TÓM TẮT
- Ý nghĩa lâm sàng của cơn co giật sớm so với cơn co giật muộn
Cơn co giật sớm và muộn sau chấn thương sọ não (TBI) là hai thực thể lâm sàng khác biệt; cơn co giật sớm xảy ra trong vòng một tuần sau TBI và là các biến cố cấp tính với nguy cơ tái phát tương đối thấp. Cơn co giật muộn xảy ra sau hơn một tuần kể từ khi chấn thương và thường là dấu hiệu khởi phát của động kinh sau chấn thương. (Xem ‘Cơn co giật sau chấn thương sớm’ ở dưới và ‘Động kinh sau chấn thương’ ở dưới.) - Các yếu tố nguy cơ của cơn co giật sớm
Cơn co giật sớm thường gặp hơn ở các trường hợp chấn thương đầu mức độ nặng, xuất huyết nội sọ, chấn thương đầu xuyên thấu, lún sọ và các yếu tố khác đã thảo luận ở trên. (Xem ‘Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ’ ở dưới.) - Đánh giá TBI và cơn co giật sớm
Bệnh nhân TBI mức độ nhẹ có mất ý thức hoặc các triệu chứng kéo dài nên được đánh giá tại khoa cấp cứu. Nên chỉ định chẩn đoán hình ảnh, thường là CT sọ não không thuốc cản quang, cho tất cả bệnh nhân có cơn co giật, thay đổi trạng thái tâm thần hoặc các khiếm khuyết thần kinh khác. Bệnh nhân TBI mức độ trung bình hoặc nặng cần được thực hiện chẩn đoán hình ảnh, điển hình là CT sọ não, như một phần của quy trình đánh giá chấn thương. Theo dõi điện não đồ (EEG) liên tục (nếu có sẵn) được chỉ định cho bệnh nhân TBI khi có nghi ngờ lâm sàng về cơn co giật. (Xem ‘Đánh giá TBI và cơn co giật sớm’ ở dưới.) - Dự phòng cơn co giật sớm
Một số bệnh nhân TBI mức độ trung bình hoặc nặng có thể được điều trị bằng thuốc chống co giật dự phòng ngắn hạn. Bệnh nhân TBI mức độ nhẹ hơn thường không cần điều trị dự phòng. Vấn đề này được thảo luận riêng biệt cho người lớn (xem “Xử trí chấn thương sọ não cấp tính mức độ trung bình và nặng ở người lớn”, phần ‘Thuốc chống co giật và theo dõi điện não đồ’) và trẻ em (xem “Chấn thương sọ não (TBI) nặng ở trẻ em: Đánh giá và xử trí ban đầu”, phần ‘Dự phòng chống co giật’). - Điều trị cơn co giật sớm
Thuốc chống co giật được sử dụng để điều trị các cơn co giật sớm nhằm ngăn ngừa tái phát và giảm nguy cơ trạng thái động kinh hoặc các biến chứng khác của cơn co giật. Nếu không có cơn co giật tái phát, có thể giảm dần liều thuốc chống co giật trong vài tuần sau khi xuất viện. (Xem ‘Xử trí cơn co giật sớm’ ở dưới.) - Động kinh sau chấn thương
Các cơn co giật xảy ra sau một tuần kể từ khi chấn thương có khả năng là động kinh. Ngoại trừ yếu tố tuổi tác, các cơn co giật muộn có các yếu tố nguy cơ tương tự như cơn co giật sớm. Động kinh sau chấn thương thường gặp hơn ở người cao tuổi và tương đối hiếm gặp ở trẻ em. (Xem ‘Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ’ ở dưới.) - Dự phòng cơn co giật muộn
Ở những bệnh nhân chưa có cơn co giật muộn sau chấn thương, chúng tôi khuyến cáo không sử dụng thuốc chống co giật để dự phòng các cơn co giật muộn hoặc động kinh sau chấn thương (Khuyến cáo 2B). Hiện chưa có bằng chứng về hiệu quả của phương pháp này và các thuốc chống co giật có thể gây ra nhiều tác dụng phụ tiềm ẩn. (Xem ‘Dự phòng động kinh’ ở dưới.)
Đánh giá và xử trí cơn co giật muộn
Chẩn đoán phân biệt và tiếp cận chẩn đoán ở bệnh nhân có cơn co giật muộn lần đầu tương tự như việc đánh giá bất kỳ bệnh nhân nào có cơn co giật lần đầu. (Xem “Đánh giá và xử trí cơn co giật lần đầu ở người lớn”.)
Đối với những bệnh nhân có tiền sử TBI mức độ trung bình đến nặng có cơn co giật muộn sau chấn thương lần đầu, chúng tôi khuyến cáo điều trị lâu dài bằng thuốc chống co giật (Khuyến cáo 1B). Những bệnh nhân này có khả năng cao sẽ tái phát cơn co giật nếu không được điều trị. Bệnh nhân có tiền sử TBI nhẹ có thể gặp cơn co giật muộn hoặc động kinh do các nguyên nhân khác, và nguy cơ tái phát nên được đánh giá dựa trên kết quả chẩn đoán hình ảnh não và điện não đồ (EEG). (Xem ‘Xử trí cơn co giật muộn’ ở dưới.)
