Giả u vàng sợi chun

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Di truyền và bệnh sinh – Bệnh giả xơ vàng đàn hồi (Pseudoxanthoma elasticum – PXE; MIM #264800) là một rối loạn di truyền hiếm gặp với độ tuổi khởi phát thay đổi, đặc trưng bởi tình trạng khoáng hóa lạc chỗ và đứt gãy các sợi đàn hồi tại da, mắt, hệ mạch máu và hệ tiêu hóa. PXE gây ra bởi các biến thể gây bệnh ở trạng thái đồng hợp tử hoặc dị hợp tử kép trong gen ABCC6. Gen này mã hóa cho một protein vận chuyển biểu hiện chủ yếu ở gan, tham gia vào quá trình chuyển hóa ngoại bào adenosine triphosphate (ATP) thành adenosine monophosphate (AMP) và pyrophosphate vô cơ (PPi) – một yếu tố chống khoáng hóa mạnh mẽ.

Một số trường hợp PXE không điển hình hiếm gặp là do các biến thể gây bệnh trong gen ENPP1 hoặc NT5E. Các biến thể trong những gen này cũng liên quan đến các rối loạn khoáng hóa lạc chỗ tương tự, bao gồm vôi hóa động mạch toàn thân ở trẻ sơ sinh (GACΙ) và vôi hóa động mạch do thiếu hụt CD73 (ACDC). (Xem thêm mục ‘Di truyền’ và ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)

Biểu hiện tại da – Các dấu hiệu sớm ở da và mắt thường kín đáo, đa số không được phát hiện cho đến thập kỷ thứ hai hoặc thứ ba của cuộc đời. Thương tổn da nguyên phát là các sẩn có màu sẫm hơn tông màu da tự nhiên của bệnh nhân, ban đầu xuất hiện ở hai bên cổ (hình 1A-B), sau đó lan đến nách (hình 2) và các vùng nếp gấp khác, ngực và bụng. Cuối cùng, vùng da bị ảnh hưởng trở nên chùng nhão và dư thừa (hình 3A-B). (Xem thêm mục ‘Da’ ở dưới.)

Biểu hiện tại mắt – Vệt dạng mạch máu (angioid streaks), được đặt tên do sự tương đồng với các mạch máu võng mạc, là dấu hiệu đặc trưng nhất của mắt trong PXE (hình 5). Khi bệnh tiến triển, tân mạch màng mạch (CNV) sẽ xuất hiện. Sự rò rỉ huyết thanh hoặc máu từ các mạch máu này dẫn đến bong võng mạc khu trú (hình 6) và gây biến dạng thị giác. (Xem thêm mục ‘Mắt’ ở dưới.)

Biểu hiện tim mạch – Giảm hoặc mất mạch ngoại vi và khởi phát sớm tình trạng đi khập khiễng cách hồi là những biểu hiện mạch máu ngoại vi phổ biến nhất của PXE. Các biến chứng mạch máu khác bao gồm tăng huyết áp do hẹp động mạch thận, bệnh động mạch vành sớm và bệnh mạch máu não. Tổn thương động mạch mạc treo và các nhánh của nó có thể gây đau thắt ruột và xuất huyết tiêu hóa trên. (Xem thêm mục ‘Hệ tim mạch’ ở dưới.)

Đánh giá và chẩn đoán – Việc phát hiện trạng thái đồng hợp tử hoặc dị hợp tử kép đối với hai đột biến gây bệnh trong gen ABCC6 thông qua xét nghiệm di truyền được xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán PXE. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, chẩn đoán PXE dựa trên lâm sàng, thông qua việc phát hiện các thương tổn da điển hình với minh chứng mô bệnh học về vôi hóa sợi đàn hồi ở trung bì và các vệt dạng mạch máu (angioid streaks) ở võng mạc. Do khởi phát muộn, cùng tính chất kín đáo và không triệu chứng của các biểu hiện sớm tại da, mắt và mạch máu, nên việc chẩn đoán thường bị trì hoãn. (Xem thêm mục ‘Đánh giá và chẩn đoán’ và ‘Xét nghiệm di truyền’ ở dưới.)

Quản lý và điều trị – Cần một tiếp cận đa chuyên khoa tại các trung tâm chuyên sâu để quản lý các biểu hiện chính về mắt, mạch máu và da của PXE.

Biến chứng tại mắt – Bệnh nhân PXE cần được theo dõi lâu dài bởi chuyên gia về võng mạc. Đối với bệnh nhân có tân mạch màng mạch (CNV) liên quan đến vệt dạng mạch máu, chúng tôi đề xuất tiêm trong dịch kính các thuốc đối kháng yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF) (Khuyến cáo 2C). Bevacizumab, ranibizumab hoặc aflibercept đã được ghi nhận là có hiệu quả trong việc ổn định hoặc cải thiện thị lực cho những bệnh nhân này. (Xem thêm mục ‘Biến chứng tại mắt’ ở dưới.)

Giảm thiểu rủi ro tim mạch – Các biện pháp chung để giảm rủi ro tim mạch bao gồm tầm soát bởi chuyên gia tim mạch, tập thể dục thường xuyên, chế độ ăn bảo vệ tim mạch, kiểm soát huyết áp, theo dõi lipid máu và điều trị tăng lipid máu. Cần khuyến cáo mạnh mẽ bệnh nhân bỏ thuốc lá vì thuốc lá có thể làm trầm trọng thêm tình trạng đi khập khiễng cách hồi. (Xem thêm “Tổng quan về dự phòng cấp 1 bệnh tim mạch ở người trưởng thành”.)

Thương tổn da và tình trạng chùng nhão – Phẫu thuật tạo hình có thể giúp cải thiện vẻ ngoài của vùng da chùng nhão, đặc biệt là ở cổ, nách và bẹn. Tuy nhiên, tình trạng chùng nhão có thể tái phát và cần can thiệp phẫu thuật thêm. (Xem thêm mục ‘Thương tổn da và tình trạng chùng nhão’ ở dưới.)

Các liệu pháp đang nghiên cứu để ngăn ngừa khoáng hóa hệ thống – Hiện chưa có phương pháp điều trị nào được chứng minh là hiệu quả trong việc ngăn chặn hoặc phòng ngừa khoáng hóa hệ thống trong PXE. Các liệu pháp thử nghiệm như dùng PPi đường uống, etidronate (một bisphosphonate thế hệ thứ nhất) và bổ sung magie qua chế độ ăn đã được đánh giá trong một vài nghiên cứu lâm sàng với kết quả khác nhau. Tuy nhiên, chưa có phương pháp nào được chấp nhận rộng rãi để sử dụng trong lâm sàng. (Xem thêm mục ‘Các liệu pháp nghiên cứu phòng ngừa khoáng hóa hệ thống’ ở dưới.)

Thai kỳ – Hầu hết các trường hợp mang thai ở người mắc PXE đều diễn ra không có biến chứng và không có căn cứ nào để khuyên bệnh nhân không nên mang thai. (Xem thêm mục ‘Thai kỳ’ ở dưới.)

GIỚI THIỆU

Pseudoxanthoma elasticum (PXE) là một bệnh lý di truyền, tiến triển, hiếm gặp, đặc trưng bởi tình trạng khoáng hóa lạc chỗ và đứt gãy các sợi chun tại da, mắt, hệ mạch máu và hệ tiêu hóa 1-3. PXE gây ra bởi các đột biến đồng hợp tử hoặc dị hợp tử kép trong gen ABCC6, gen mã hóa cho protein vận chuyển xuyên màng tế bào ABCC6.

Bài viết này tổng quan về bệnh sinh, đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học, các biến chứng, chẩn đoán và điều trị PXE. Các rối loạn mô liên kết di truyền khác được trình bày riêng biệt.

(Xem “Thiểu sản da khu trú (hội chứng Goltz)”.)

(Xem “Hội chứng Ehlers-Danlos: Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”.)

(Xem “Hội chứng Ehlers-Danlos: Tổng quan về xử trí”.)

(Xem “Di truyền học, đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hội chứng Marfan và các rối loạn liên quan”.)

(Xem “Xử trí hội chứng Marfan và các rối loạn liên quan”.)

DỊCH TỄ HỌC

Tỷ lệ lưu hành chính xác của PXE hiện chưa được xác định. Ước tính tỷ lệ này trong dân số chung là từ 1:25.000 đến 1:100.000 4; tỷ lệ này có thể cao hơn nhiều ở quần thể người Afrikaner tại Nam Phi do hiệu ứng sáng lập (founder effect) 5. Việc đưa ra các ước tính chính xác hơn gặp khó khăn do mức độ biểu hiện của PXE rất đa dạng, vì một số bệnh nhân có tổn thương da tối thiểu hoặc không có, mặc dù có các biểu hiện ở mắt hoặc tim mạch.

Tỷ lệ người mang biến thể gây bệnh của gen ABCC6 ước tính khoảng 1:80 đến 1:150 6.

DI TRUYỀN HỌC

Các rối loạn khoáng hóa lạc chỗ liên quan

Có ba bệnh lý chia sẻ một số đặc điểm lâm sàng và chuyển hóa (đáng chú ý là nồng độ pyrophosphate vô cơ [PPi] trong máu giảm và có tổn thương mạch máu) 7 (xem ‘Sinh lý bệnh’ dưới đây):

  • PXE điển hình – Các thể PXE điển hình với tình trạng khoáng hóa lạc chỗ, hầu hết do các biến thể gây bệnh trong gen ABCC6 và trong một số ít trường hợp là do các biến thể gây bệnh trong gen ENPP1
  • Vôi hóa động mạch toàn thể thời thơ ấu (GACІ) – GACІ (MIM #208000), hầu hết do các biến thể gây bệnh trong gen ENPP1 và trong một số ít trường hợp do các biến thể gây bệnh trong gen ABCC6
  • Vôi hóa động mạch do thiếu hụt CD73 (ACDC) – ACDC (MIM #211800), gây ra bởi các biến thể bất hoạt gây bệnh trong gen NT5E

Các biến thể gây bệnh liên quan đến bệnh giả xơ cứng chun (PXE)

Mặc dù hầu hết các trường hợp PXE thể điển hình là do các biến thể biallelic của gen ABCC6, tuy nhiên vẫn tồn tại sự không đồng nhất về di truyền và sự chồng lấp kiểu hình với các rối loạn khoáng hóa lạc chỗ di truyền khác.

  • ABCC6: PXE thể điển hình (MIM #264800) gây ra bởi các biến thể gây bệnh đồng hợp tử hoặc dị hợp tử kép trong gen ABCC6 trên nhiễm sắc thể 16p13.1, mã hóa cho protein adenosine triphosphate (ATP)-binding cassette, subfamily C, member 6 (ABCC6) 8. Khoảng 90% bệnh nhân PXE thể điển hình mang các biến thể gây bất hoạt gen ABCC6, vốn biểu hiện chủ yếu ở gan và một phần ở ống lượn gần của thận 9.
  • ENPP1: Một số ít trường hợp PXE thể không điển hình gây ra bởi các biến thể gây bệnh trong gen ENPP1, mã hóa cho ectonucleotide pyrophosphatase/phosphodiesterase 1—enzyme chính tạo ra pyrophosphate (PPi) ngoại bào thông qua quá trình thủy phân ATP 10.

    Những trường hợp PXE này có sự chồng lấp về di truyền với một rối loạn khoáng hóa lạc chỗ khác là GACI, di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường 7,11-13. (Xem thêm ‘Các rối loạn khoáng hóa lạc chỗ liên quan’ ở trên.)

  • NT5E: Gen NT5E mã hóa cho ecto-5-prime-nucleotidase CD73, một enzyme gắn màng giúp phân giải adenosine monophosphate (AMP) thành adenosine và phosphate vô cơ (Pi). Khi CD73 mất hoạt tính, nồng độ alkaline phosphatase không đặc hiệu mô (TNAP) tăng lên trong khi nồng độ pyrophosphate giảm, từ đó ngăn chặn sự phân hủy canxi phosphate.

Kiểu di truyền

PXE di truyền theo tính trạng lặn trên nhiễm sắc thể thường với độ thâm nhập hoàn toàn. Tuy nhiên, hai biến thể gây bệnh có độ thâm nhập không hoàn toàn đã được ghi nhận 14.

Các giả thuyết trước đây về di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường trong những gia đình có hai thế hệ liên tiếp mắc bệnh đã bị bác bỏ sau phân tích di truyền; kết quả cho thấy đây là hiện tượng giả trội (pseudodominance) trong các gia đình có quan hệ huyết thống gần 15. Ngoài ra, hai trường hợp có khả năng là khảm tế bào mầm (gonadal mosaicism) trong kiểu di truyền PXE lặn trên nhiễm sắc thể thường cũng đã được mô tả 16.

SINH LÝ BỆNH

ABCC6 là một protein vận chuyển đẩy ngược (efflux transporter) biểu hiện chủ yếu ở bề mặt đáy bên của tế bào gan, ngoài ra nó còn được biểu hiện ở mức độ thấp hơn tại các ống lượn gần của thận 9. Trong điều kiện sinh lý, ABCC6 tạo điều kiện vận chuyển adenosine triphosphate (ATP) từ tế bào gan qua màng tế bào; sau đó, ATP nhanh chóng được chuyển hóa trong môi trường ngoại bào thành adenosine monophosphate (AMP) và pyrophosphate vô cơ (PPi) nhờ enzyme ectonucleotide pyrophosphatase/phosphodiesterase 1 (ENPP1) 17. PPi trong huyết tương có thời gian bán thải tương đối ngắn và được phân hủy sinh lý bởi alkaline phosphatase không đặc hiệu với mô (TNAP), vốn bị ức chế bởi adenosine 18.

Vì PPi là một yếu tố chống khoáng hóa mạnh, việc sụt giảm nồng độ PPi dẫn đến tình trạng khoáng hóa lạc chỗ tại các mô giàu elastin, bao gồm trung bì da, màng Bruch của võng mạc và màng đàn hồi trong của các động mạch kích thước trung bình. Nhìn chung, trong ba rối loạn khoáng hóa lạc chỗ có tính di truyền bao gồm: PXE, vôi hóa động mạch toàn thể ở trẻ sơ sinh (GACI) và vôi hóa động mạch do thiếu hụt CD73 (ACDC) (xem ‘Các rối loạn khoáng hóa lạc chỗ liên quan’ ở trên), đặc điểm cơ chế thống nhất là sự sụt giảm nồng độ PPi trong tuần hoàn 7,19.

Về cơ bản, nồng độ PPi tuần hoàn tỷ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của tình trạng khoáng hóa lạc chỗ; tuy nhiên, trong bệnh PXE, nồng độ PPi không tương quan với kiểu gen hay mức độ nghiêm trọng của kiểu hình 20,21.

Các bằng chứng mới cho thấy các biến thể gây bệnh trong gene ABBC6 làm tăng nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ ở cả người mang gene dị hợp tử và đồng hợp tử 22.

  • GACI: Ở bệnh nhân GACI, nồng độ PPi trong huyết tương gần như bằng không, tương ứng với nồng độ rất thấp trong nước tiểu 23. Tình trạng khoáng hóa lạc chỗ diễn ra cực kỳ nghiêm trọng, dẫn đến tỷ lệ tử vong sớm cao.
  • PXE: Ở bệnh nhân PXE, nồng độ PPi trong huyết tương giảm xuống còn khoảng 30% so với người không mắc bệnh 24. Mức độ khoáng hóa lạc chỗ thay đổi tùy cá thể và khởi phát muộn; bệnh tiến triển chậm và thường không ảnh hưởng đến tuổi thọ. Ngoài ra, có sự không đồng nhất đáng kể về kiểu hình trong cùng một gia đình hoặc giữa các gia đình, ngay cả ở những cá thể có cùng biến thể gene. Có giả thuyết cho rằng ảnh hưởng của các gene điều hòa, yếu tố ngoại di truyền (epigenetic) và các biến số lối sống (ví dụ: tập thể dục và chế độ ăn uống) có thể giải thích cho sự khác biệt về mức độ nghiêm trọng của bệnh 25.
  • ACDC: Trong ACDC, việc thiếu hụt chuyển hóa từ AMP thành adenosine và Pi dẫn đến giảm nồng độ adenosine trong huyết tương, gây kích hoạt TNAP và kéo theo sự sụt giảm nồng độ PPi huyết tương. Mặc dù nồng độ PPi ở bệnh nhân ACDC chưa được xác định rõ, nhưng kết quả trên mô hình chuột (Nt5e-/-) cho thấy nồng độ này giảm đáng kể 26. ACDC biểu hiện chủ yếu bằng vôi hóa mạch máu ở chi dưới và vôi hóa quanh khớp ở người lớn tuổi 7,27.

BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Tuổi khi khởi phát

Bệnh nhân PXE thể điển hình thường xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng sớm nhất vào cuối thập kỷ đầu tiên hoặc trong thập kỷ thứ hai của cuộc đời. Các biểu hiện sớm ở da và mắt thường kín đáo và trong hầu hết các trường hợp, không được phát hiện cho đến thập kỷ thứ hai hoặc thứ ba, mặc dù một số trường hợp đã được mô tả ở trẻ em dưới 10 tuổi 4,28,29. Theo Sổ đăng ký quốc tế về PXE (dữ liệu chưa công bố), 92% bệnh nhân được chẩn đoán trong thời thơ ấu cho biết thay đổi ở da vùng cổ là dấu hiệu sớm nhất của PXE.

Bệnh nhân PXE thể không điển hình do các biến thể gây bệnh ở gen ENPP1 thường được chẩn đoán trong năm đầu đời. Tuy nhiên, hầu hết trẻ sơ sinh biểu hiện PXE cuối cùng được chẩn đoán là vôi hóa động mạch toàn thể ở trẻ sơ sinh (GACI). Khác với PXE, GACI điển hình biểu hiện với tổn thương mạch máu cực kỳ nghiêm trọng, thường được chẩn đoán trước sinh qua siêu âm vào tuần thứ 14 đến 15 của thai kỳ. Nhiều bệnh nhân trong số này tử vong do các biến chứng tim mạch trong năm đầu đời. (Xem “Còi xương giảm phospho huyết di truyền và nhuyễn xương do u”, phần ‘Còi xương giảm phospho huyết di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường’.)

Biểu hiện ở da

Tổn thương da nguyên phát là các sẩn, có thể có màu vàng hoặc sậm màu hơn so với màu da tự nhiên, ban đầu xuất hiện ở hai bên cổ (hình 1A và hình 1B), sau đó lan sang nách (hình 2) và các vùng nếp gấp khác (ví dụ: hố khuỷu, hố khoeo, bẹn), ngực và bụng 29. Niêm mạc môi, âm đạo, hậu môn và dạ dày cũng có thể xuất hiện các tổn thương tương tự. Ở một số bệnh nhân, các biểu hiện ở da có thể kín đáo hoặc không thể phát hiện được 29.

Các sẩn trên da dần hợp nhất thành các mảng, và cuối cùng vùng da tổn thương trở nên chùng nhão và dư thừa (hình 3A và hình 3B). Không có mối liên hệ giữa mức độ nghiêm trọng của các biểu hiện ở da với các biểu hiện ở mắt hoặc tim mạch. (Xem ‘Hệ tim mạch’ bên dưới.)

Các tổn thương niêm mạc miệng thường ít được chú ý trong bệnh PXE. Các dát hình lưới màu vàng đặc trưng ở niêm mạc môi dưới phổ biến hơn so với những thay đổi tương tự ở sàn miệng và niêm mạc môi trên 30.

Mắt

Biểu hiện tại mắt sớm nhất, thường xuất hiện ở thời thơ ấu, là hình ảnh “da cam” (peau d’orange) của võng mạc. Đây là tình trạng đáy mắt xuất hiện những nốt sần nhỏ màu vàng, kết quả của quá trình vôi hóa loạn dưỡng màng Bruch – lớp đàn hồi ngăn cách biểu mô sắc tố võng mạc với màng mạch (hình 4).

Các dải angioid (angioid streaks), được đặt tên do có hình dạng tương đồng với các mạch máu võng mạc, là dấu hiệu đặc trưng nhất của PXE (hình 5) 31. Những dải này thường không xuất hiện cho đến cuối thời kỳ vị thành niên hoặc trong thập kỷ thứ ba của cuộc đời. Màu sắc của dải có thể thay đổi từ đỏ đến đen, tùy thuộc vào mức độ sắc tố trong màng mạch. Mặc dù hiện diện ở hầu hết bệnh nhân PXE vào thập kỷ thứ ba, các dải angioid thường không gây triệu chứng cho đến khi hiện tượng tân mạch xảy ra, và không ảnh hưởng đến thị lực trừ khi tổn thương khu vực quanh hố trung tâm 31.

Cuối cùng, ở hầu hết bệnh nhân, các mạch máu mới dễ vỡ phát triển xuyên qua các dải angioid, dẫn đến tân mạch màng mạch (CNV). Sự rò rỉ dịch hoặc máu từ các mạch máu này gây bong cục bộ các tế bào quang thụ thể võng mạc phía trên, khiến bệnh nhân nhìn hình biến dạng (hình 6). Sự biến dạng này có thể được ghi nhận bằng lưới Amsler (hình 1), một công cụ hỗ trợ chẩn đoán sớm cho bệnh nhân.

Các tổn thương rò rỉ hoặc xuất huyết sẽ lành lại và để lại sẹo không thể hồi phục (hình 7). Khi tổn thương khu trú tại hoàng điểm, tình trạng này có thể dẫn đến mất thị lực trung tâm vĩnh viễn và mù lòa về mặt pháp lý. Các nghiên cứu cũng cho thấy sự chậm lại của quá trình thích nghi với bóng tối thông qua cả tế bào nón và tế bào hình que trong PXE; điều này gợi ý rằng đo thích nghi bóng tối (dark adaptometry) có thể được sử dụng để đánh giá mức độ nghiêm trọng và theo dõi diễn tiến của bệnh 32.

Hệ tim mạch

Các biểu hiện tim mạch trong bệnh PXE là hậu quả của tình trạng hẹp tiến triển các động mạch nhỏ và trung bình do hiện tượng đứt gãy sợi chun và vôi hóa các sợi chun thoái hóa tại màng chun trong và lớp trung mạc của các mạch máu này 4,33. Những thay đổi này dẫn đến bệnh động mạch ngoại biên, độc lập với các yếu tố nguy cơ tim mạch thông thường khác 34,35.

Các biểu hiện mạch máu ngoại biên thường gặp nhất trong PXE bao gồm giảm hoặc mất mạch ngoại biên (bao gồm cả mạch quay) và xuất hiện sớm tình trạng đau cách hồi (có thể xảy ra ở cả chi trên). Ngoài ra, thường ghi nhận sự chênh lệch huyết áp khi đo ở hai tay. Các nghiên cứu cho thấy chỉ số cổ chân – cánh tay (ABI) thấp rất phổ biến trong PXE, gặp tới 44% người trưởng thành mắc bệnh 34. (Xem thêm “Tổng quan về bệnh động mạch chi dưới” và “Chẩn đoán không xâm lấn bệnh động mạch chi trên và chi dưới”, phần ‘Chỉ số cổ chân – cánh tay’.)

Tăng huyết áp thứ phát do hẹp động mạch thận được cho là phổ biến hơn trong PXE và là một yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ bệnh tật tim mạch.

Bệnh động mạch vành sớm, mặc dù ít gặp hơn bệnh động mạch ngoại biên, nhưng là một trong những biến chứng mạch máu nghiêm trọng nhất của PXE. Một số ca hiếm gặp về đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim ở trẻ em và thanh thiếu niên (phân biệt với các trường hợp gặp trong GACІ) đã được báo cáo 36. Những người mang dị hợp tử biến thể ABCC6 p.R1141X (phổ biến nhất ở Hoa Kỳ và Châu Âu) được chứng minh là có nguy cơ mắc bệnh động mạch vành cao hơn 37.

Trẻ em hiếm khi có dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh tim mạch, ngoại trừ tình trạng mạch ngoại biên không đối xứng. Tuy nhiên, có một số báo cáo ca lâm sàng đơn lẻ về nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực, đau cách hồi và xuất huyết tiêu hóa trên ở trẻ em mắc PXE 38-42. (Xem ‘Hệ tiêu hóa’ dưới đây.)

Bệnh mạch máu não, bao gồm sa sút trí tuệ do đa nhồi máu, đột quỵ nhẹ hoặc cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua, cũng đã được ghi nhận trong PXE 43,44. Trong một nhóm nghiên cứu gồm 239 bệnh nhân PXE tại Pháp, tỷ lệ biểu hiện mạch máu thần kinh là 10% 45. Tại một nhóm 100 bệnh nhân PXE ở Hà Lan, nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ ở người dưới 65 tuổi cao gần gấp 4 lần so với quần thể chung (nguy cơ tương đối 3,6; 95% CI 3,3-4,0) 44.

Hệ tiêu hóa

Hiếm khi, tình trạng hẹp động mạch mạc treo hoặc các nhánh của nó có thể gây ra đau thắt ruột, biểu hiện là những cơn đau bụng co thắt cấp tính sau ăn. (Xem “Thiếu máu mạc treo mạn tính”, phần ‘Triệu chứng’.)

Xuất huyết tiêu hóa trên cấp tính, được cho là do hẹp động mạch cung cấp máu cho dạ dày, cũng đã được báo cáo 46.

ĐÁNH GIÁ VÀ CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán PXE dựa trên sự kết hợp giữa các phát hiện lâm sàng và xét nghiệm di truyền.

Khi nào nghi ngờ bệnh giả xơ vàng đàn hồi (PXE)

Nghi ngờ chẩn đoán PXE khi bệnh nhân có các tổn thương da điển hình (ví dụ: các sẩn nhỏ màu vàng hoặc màu da ở vùng cổ hoặc nách, da chùng nhão tạo thành các nếp gấp) và/hoặc các dấu hiệu đặc trưng khi khám mắt (ví dụ: dấu hiệu “da cam”, vệt angioid). (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở trên.)

Sinh thiết da và mô bệnh học

Sinh thiết da thường được chỉ định để xác định chẩn đoán, trừ khi chẩn đoán đã được thiết lập bằng các phương pháp khác, chẳng hạn như xét nghiệm di truyền. Kết quả sinh thiết tổn thương da điển hình cho thấy tình trạng vôi hóa các sợi chun bị đứt gãy và kết tụ ở tầng trung bì. Mặc dù trong nhiều trường hợp có thể chẩn đoán dựa trên các lát cắt nhuộm hematoxylin và eosin (hình 8), nhưng các phương pháp nhuộm đặc hiệu cho mô chun (ví dụ: nhuộm Weigert hoặc Verhoeff-Van Gieson (hình 9)) và nhuộm canxi (ví dụ: nhuộm von Kossa hoặc alizarin đỏ (hình 10)) sẽ giúp khẳng định chẩn đoán.

Các bệnh lý có hình ảnh mô bệnh học tương tự PXE bao gồm calciphylaxis (vôi hóa da và mô mềm), tiếp xúc nghề nghiệp với natri nitrat (muối tiêu), và tăng phosphat máu ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo; tuy nhiên, thông thường không có sự nhầm lẫn về chẩn đoán lâm sàng trong những trường hợp này.

Chẩn đoán hình ảnh

Ở bệnh nhân PXE, các nghiên cứu hình ảnh có thể phát hiện những tổn thương tình cờ liên quan đến vôi hóa sợi chun.

Trong hai nghiên cứu, siêu âm phát hiện vôi hóa vi thể lan tỏa ở tinh hoàn ở hầu hết nam giới mắc PXE, trong khi một số lượng đáng kể người mang gen cho thấy vôi hóa vi thể khu trú 47,48. Vôi hóa vi thể ở gan, thận hoặc lách được tìm thấy ở hơn 50% bệnh nhân và 25% người mang gen 47,48. Một số thay đổi trên siêu âm, đặc biệt là ở tinh hoàn, có thể xuất hiện ở trẻ em mắc PXE và thậm chí xuất hiện trước các dấu hiệu ngoài da 47,49,50.

Vôi hóa vi thể ở da và mạch máu cũng được phát hiện trên nhũ ảnh ở những người mắc PXE, mặc dù tỷ lệ ung thư vú không được cho là tăng so với quần thể chung 51,52. Các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh cần lưu ý những phát hiện này ở nữ giới mắc PXE, vì chúng có thể bị nhầm lẫn với dấu hiệu ung thư, dẫn đến việc sinh thiết không cần thiết.

Những người có nguy cơ hoặc có triệu chứng đau thắt ngực có thể cần thực hiện các nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh tim mạch chuyên sâu khi cần thiết. Ví dụ như xạ hình cơ tim, chụp cắt lớp vi tính (CT) động mạch vành, chụp cộng hưởng từ (MRI) hoặc chụp mạch máu ngoại vi 53.

Xét nghiệm cận lâm sàng

Không có xét nghiệm cận lâm sàng đặc hiệu nào là cần thiết để chẩn đoán PXE, và hiện chưa có dấu ấn sinh học (biomarker) giá trị nào để theo dõi diễn tiến bệnh. Vì xơ vữa động mạch vành và bệnh mạch máu ngoại vi thường liên quan đến tăng lipid máu, nên bảng lipid máu thường được thực hiện định kỳ ở người trưởng thành mắc PXE, vốn là nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh mạch máu tắc nghẽn. Thời gian prothrombin có thể được tầm soát ở những bệnh nhân có biểu hiện da và võng mạc không điển hình, nghi ngờ có các biến thể gây bệnh ở gen GGCX. (Xem “Yếu tố đông máu phụ thuộc Vitamin K: Gamma-carboxyl hóa và chức năng của Gla”, phần ‘Enzyme Gamma-glutamyl carboxylase’.)

Xét nghiệm di truyền

Việc phát hiện tình trạng đồng hợp tử hoặc dị hợp tử kép đối với hai biến thể gây bệnh trong gen ABCC6 được xem là tiêu chuẩn vàng để xác nhận chẩn đoán ở bệnh nhân có các dấu hiệu lâm sàng của PXE. Hiện nay, nhiều phòng xét nghiệm trên thế giới thực hiện tầm soát các biến thể gây bệnh (ví dụ: đột biến điểm và mất đoạn) trong gen ABCC6 bằng phương pháp giải trình tự Sanger hoặc giải trình tự thế hệ mới (NGS), thường nằm trong các bảng gen (panels) nhắm vào các bệnh lý võng mạc hoặc rối loạn mô liên kết 1. Độ nhạy của riêng xét nghiệm di truyền là khoảng 80%, với độ đặc hiệu gần 100% 54.

Mặc dù trong nhiều trường hợp, chẩn đoán PXE có thể được xác lập dựa trên việc tìm thấy các tổn thương da điển hình kèm theo minh chứng mô bệnh học về sự vôi hóa sợi đàn hồi ở trung bì và các tổn thương võng mạc đặc trưng, nhưng xét nghiệm di truyền vẫn hữu ích trong một số tình huống chọn lọc:

  • Chẩn đoán giai đoạn tiền triệu chứng ở các gia đình có tiền sử mắc PXE 55. Ví dụ, đối với những trẻ chưa biểu hiện triệu chứng nhưng có anh chị em mắc PXE xác định, xét nghiệm di truyền có giá trị trong việc chẩn đoán sớm, đặc biệt nếu các biến thể gây bệnh trong gia đình đã được xác định trước đó. Tuy nhiên, khi chưa có phương pháp điều trị hiệu quả hoặc chiến lược làm chậm tiến triển bệnh, việc chẩn đoán giai đoạn tiền triệu chứng có thể gây ra những quan ngại về đạo đức. (Xem “Xét nghiệm di truyền”, phần ‘Các vấn đề đạo đức, pháp lý và tâm xã hội’.)
  • Bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng hạn chế. Ở những bệnh nhân chỉ có vệt angioid đơn độc, không có tổn thương da điển hình và không có tiền sử gia đình mắc PXE ở người thân trực hệ bậc một, xét nghiệm di truyền có giá trị trong việc xác nhận hoặc loại trừ chẩn đoán.
  • Trong những trường hợp PXE đã được xác lập trên lâm sàng nhưng không tìm thấy biến thể gây bệnh trong ABCC6 qua xét nghiệm di truyền, tùy vào kiểu hình, việc xét nghiệm các gen khác bao gồm ENPP1 và GGCX có thể mang lại giá trị.
  • Khi nghi ngờ PXE nhưng không tìm thấy biến thể gây bệnh trong ABCC6, ENPP hoặc GGCX, cần ưu tiên loại trừ bệnh beta-thalassemia hoặc bệnh hồng cầu hình liềm trước. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ bên dưới.)

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Các tiêu chuẩn chẩn đoán PXE sửa đổi, bao gồm các dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm phân tử để phân loại chẩn đoán xác định, chẩn đoán có khả năng và chẩn đoán nghi ngờ, đã được đề xuất vào năm 2010 56:

Tiêu chuẩn chẩn đoán chính

  • Da:
    • Các sẩn và mảng giả xơ vàng (pseudoxanthomatous) ở vùng cổ và các nếp gấp chi.
    • Mô bệnh học cho thấy sự vôi hóa của các sợi đàn hồi đa hình, tụ tập ở trung bì hoặc hạ bì (“elastorrhexis”).
  • Mắt:
    • Một hoặc nhiều vệt angioid có chiều dài > 1 đường kính đĩa thị.
    • Hiện tượng “da cam” (peau d’orange).
  • Xét nghiệm di truyền: Các biến thể gây bệnh hai alen trong gen ABCC6.

Tiêu chuẩn chẩn đoán phụ

  • Người thân trực hệ bậc một (anh chị em, cha mẹ hoặc con cái [đặc biệt nếu có kết hôn cận huyết ở hai trường hợp sau]) mắc PXE xác định.
  • Phát hiện biến thể gây bệnh ABCC6 chỉ trên một alen khi xét nghiệm di truyền.
  • Thay đổi mô bệnh học của PXE trên vùng da không có tổn thương (không có tổn thương da nhìn thấy được).

Kết luận chẩn đoán

  • PXE xác định: Có sự hiện diện của ít nhất hai tiêu chuẩn chính không cùng một nhóm.
  • PXE có khả năng: Có sự hiện diện của một tiêu chuẩn chính và một tiêu chuẩn phụ thuộc các nhóm khác nhau.
  • PXE nghi ngờ: Có sự hiện diện của một tiêu chuẩn chính duy nhất.

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

Chẩn đoán phân biệt với PXE bao gồm các bệnh lý di truyền và mắc phải có biểu hiện kiểu hình tương tự 1,2,6,7,57.

Các bệnh lý di truyền – Các tình trạng di truyền có chung đặc điểm về da, mắt và mạch máu với PXE nhưng liên quan đến các biến thể gây bệnh ở các gen khác và có cơ chế bệnh sinh khác biệt, bao gồm:

Các bệnh lý da mắc phải – Các tổn thương da mắc phải có sẩn tương tự như sẩn trong PXE bao gồm 65:

  • Sẩn xơ trắng vùng cổ 66.
  • Sẩn liên quan đến thoái hóa sợi chun do ánh sáng (hình 11).
  • Thoái hóa sợi chun vùng da khu trú khởi phát muộn 67.
  • Sẩn liên quan đến điều trị kéo dài bằng D-penicillamine 68.
  • Thoái hóa sợi chun vôi hóa xuyên biểu mô, một bệnh da mắc phải hiếm gặp, chủ yếu ảnh hưởng vùng quanh rốn ở phụ nữ sinh nhiều con 69.
  • PXE xuyên biểu mô vùng quanh rốn cũng được mô tả ở phụ nữ béo phì sinh nhiều con và được cho là thể mắc phải. Tuy nhiên, hiện chưa có báo cáo về kiểu gen trong các trường hợp này 70.
  • Các tổn thương võng mạc dạng dải angioid mắc phải có thể gặp trong cận thị nặng và thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi tác.

ĐIỀU TRỊ VÀ QUẢN LÝ

Hiện nay chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu nào được chứng minh là có hiệu quả trong việc ngăn chặn hoặc phòng ngừa quá trình vôi hóa hệ thống trong bệnh PXE. Do đó, cần áp dụng tiếp cận đa chuyên khoa để quản lý các biểu hiện chính về nhãn khoa, mạch máu và da liễu của bệnh lý này 1.

Biến chứng nhãn khoa

Bệnh nhân PXE cần được theo dõi sát sao, dài hạn bởi chuyên gia về bệnh lý võng mạc.

  • Tiêm VEGF nội nhãn – Việc tiêm kịp thời các thuốc đối kháng yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF) (ví dụ: bevacizumab, ranibizumab, aflibercept) có thể ngăn ngừa các biến chứng nhãn khoa nghiêm trọng liên quan đến PXE (như giảm thị lực và mù lòa thứ phát do xuất huyết hoặc rò rỉ từ tân mạch dưới võng mạc). Trong một số nghiên cứu lâm sàng quy mô nhỏ, tiêm kháng VEGF nội nhãn có liên quan đến việc ổn định hoặc cải thiện thị lực chỉnh kính tối đa và độ dày hoàng điểm trung tâm 71-77. (Xem thêm “Thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi tác”, phần ‘Thuốc ức chế VEGF’.)
  • Tự theo dõi thị lực – Khuyến khích bệnh nhân sử dụng lưới Amsler tại nhà để tự theo dõi các biến dạng trong tầm nhìn trung tâm (hình 1).
  • Phòng tránh chấn thương đầu và mắt từ bên ngoài – Vì chấn thương nhãn cầu dạng cùn và có thể cả chấn thương đầu có thể thúc đẩy quá trình tân mạch hóa và gây xuất huyết dưới võng mạc, nên việc bảo vệ vùng đầu, mắt và hạn chế tham gia các môn thể thao đối kháng hoặc thể thao dùng vợt là rất quan trọng để phòng ngừa các biến chứng này ở bệnh nhân PXE.

Giảm thiểu rủi ro tim mạch

Các biện pháp chung để giảm rủi ro tim mạch bao gồm: tầm soát bởi chuyên khoa tim mạch và thực hiện các xét nghiệm như điện tâm đồ gắng sức (ECG) 53, áp dụng chế độ ăn bảo vệ tim mạch, kiểm soát huyết áp, theo dõi mỡ máu và điều trị tăng lipid máu. Bệnh nhân cần được khuyến cáo tuyệt đối không hút thuốc lá vì điều này có thể làm trầm trọng thêm tình trạng đau cách hồi. (Xem thêm “Tổng quan về dự phòng cấp 1 bệnh tim mạch ở người trưởng thành”.)

Tổn thương và chùng nhão da

Phẫu thuật thẩm mỹ đôi khi mang lại hiệu quả trong việc cải thiện diện mạo của vùng da chùng nhão, đặc biệt là ở vùng cổ, nách và bẹn 78. Tuy nhiên, phương pháp này không thể đảo ngược các thay đổi da dạng giả xơ vàng. Ngoài ra, tình trạng chùng nhão có thể tái phát và cần phải phẫu thuật chỉnh sửa lại. Quá trình lành vết thương trong bệnh PXE được cho là diễn ra bình thường.

Do các thay đổi thoái hóa mô đàn hồi diễn ra ở tầng sâu, điều trị bằng laser không có hiệu quả trong việc xử lý các thay đổi về da liên quan đến PXE. Các liệu pháp điều trị tại chỗ như corticosteroid và retinoid cũng không mang lại hiệu quả.

Các liệu pháp nghiên cứu nhằm ngăn ngừa khoáng hóa hệ thống

Các nghiên cứu hiện nay tập trung vào việc khôi phục nồng độ pyrophosphate vô cơ (PPi) trong huyết tương hoặc ngăn chặn sự lắng đọng calcium hydroxyapatite bằng các phương pháp không phụ thuộc vào PPi 19. Mặc dù kết quả của các nghiên cứu này cho thấy triển vọng, nhưng chưa có liệu pháp nào được cơ quan quản lý phê duyệt hoặc được chấp nhận rộng rãi trong thực hành lâm sàng.

Ngoài ra, hiện chưa có dấu ấn sinh học (biomarker) định lượng nào tương quan với đáp ứng điều trị. Đo thích nghi tối (dark adaptometry) 32 và chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn bằng CT toàn thân liều thấp để đánh giá vôi hóa lạc chỗ 79 có thể là những công cụ hữu ích.

Bisphosphonates – Etidronate, một bisphosphonate thế hệ thứ nhất có hoạt tính chống khoáng hóa tương đối cao, đã được đánh giá trong việc ngăn ngừa khoáng hóa lạc chỗ ở bệnh nhân PXE trong một vài nghiên cứu với kết quả khả quan. Tuy nhiên, cần nghiên cứu thêm để đánh giá an toàn dài hạn và hiệu quả đối với kết cục lâm sàng ở bệnh nhân PXE.

Thử nghiệm ngẫu nhiên TEMP đã đánh giá hiệu quả của etidronate trong việc ngăn ngừa khoáng hóa lạc chỗ trên 74 bệnh nhân PXE có vôi hóa động mạch chân 80. Bệnh nhân được dùng etidronate liều 20 mg/kg trong 2 tuần mỗi 12 tuần hoặc dùng giả dược trong 12 tháng. Etidronate làm giảm vôi hóa động mạch (đo bằng CT) ở chi dưới 4%, trong khi nhóm giả dược ghi nhận mức tăng 8%. Số lượng biến cố tân mạch màng mạch (CNV) ở nhóm dùng etidronate cũng thấp hơn so với nhóm giả dược.

Một phân tích hậu kiểm (post-hoc) đã được xác định trước từ thử nghiệm TEMP cho thấy sau một năm điều trị, etidronate đã ngăn chặn sự tiến triển của vôi hóa ở nhiều mạng lưới mạch máu (xiphong động mạch cảnh, động mạch cảnh chung, động mạch chủ ngực và bụng, động mạch chậu, động mạch đùi-khoeo và động mạch cẳng chân), ngoại trừ động mạch vành 79. Trong một phân tích hậu kiểm khác, etidronate không ảnh hưởng đến sự khởi phát hoặc tiến triển của CNV sau khi điều chỉnh theo hoạt độ CNV ban đầu 81.

Trong một nghiên cứu tiền cứu, 73 bệnh nhân PXE có bằng chứng vôi hóa động mạch được điều trị bằng etidronate theo chu kỳ trong gần ba năm và được theo dõi trong thời gian trung bình 3,6 năm sau khi ngừng thuốc 82. Tỷ lệ tiến triển vôi hóa động mạch hàng năm trong giai đoạn điều trị bằng etidronate thấp hơn so với giai đoạn theo dõi không dùng thuốc (lần lượt là 5,2% [95% CI 3,7-6,8] và 12,0% [95% CI 10,2-13,8]).

PPi đường uống – Sau những minh chứng ban đầu về tình trạng thiếu hụt PPi ở bệnh nhân PXE, việc bổ sung PPi đường uống đã được đề xuất nhằm khôi phục nồng độ PPi trong huyết tương. Mặc dù các nghiên cứu ban đầu cho rằng PPi không thể hấp thu qua ruột do bị phân hủy nhanh bởi các phosphatase đường ruột, nhưng các nghiên cứu sau đó đã ghi nhận một tỷ lệ nhỏ PPi uống vào được hấp thu và làm tăng nồng độ PPi ở bệnh nhân PXE 83. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là thời gian bán thải của PPi tương đối ngắn (khoảng 42 phút).

Các thử nghiệm lâm sàng pha 2 đang được triển khai để đánh giá hiệu quả của các hợp chất PPi giải phóng chậm 84 và các thuốc ức chế phosphatase kiềm không đặc hiệu mô (TNAP; NCT05569252), từ đó kéo dài thời gian bán thải của PPi.

Lansoprazole – Lansoprazole, một thuốc ức chế bơm proton, có hoạt tính ức chế TNAP một phần. Một nghiên cứu chéo mù đôi cho thấy nồng độ PPi tăng nhẹ nhưng có ý nghĩa thống kê sau tám tuần dùng lansoprazole 30 mg/ngày, tuy nhiên ý nghĩa lâm sàng của kết quả này vẫn chưa rõ ràng 85.

Bổ sung Magnesium – Các nghiên cứu trước đây trên mô hình động vật PXE cho thấy việc tăng hàm lượng magnesium trong chế độ ăn giúp ngăn ngừa khoáng hóa lạc chỗ và giảm độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh 86,87. Dựa trên những quan sát này, một thử nghiệm ngẫu nhiên trên 44 bệnh nhân PXE đã đánh giá hiệu quả của magnesium oxide trong chế độ ăn đối với điều trị PXE 88. Phác đồ điều trị bao gồm dùng magnesium oxide 800 mg (tương đương 500 mg magnesium nguyên tố) hai lần mỗi ngày hoặc dùng giả dược trong một năm. Sau một năm, ghi nhận sự giảm vôi hóa các sợi đàn hồi ở da trong nhóm dùng magnesium (được đánh giá bằng thang điểm số 10 trên các mẫu sinh thiết da nhuộm Verhoeff-Van Gieson và Von-Kossa), nhưng kết quả này không có ý nghĩa thống kê.

Tuy nhiên, cần có các nghiên cứu lớn hơn để xác nhận hiệu quả và an toàn của việc bổ sung magnesium cho bệnh nhân PXE. Khuyến cáo của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) về lượng magnesium nạp vào hàng ngày là 420 mg đối với nam giới trưởng thành và 320 mg đối với nữ giới trưởng thành.

Thuốc gắn phosphate – Hiệu quả tiềm năng của sevelamer hydrochloride, một loại thuốc gắn phosphate tại ruột, đã được đánh giá trong một thử nghiệm ngẫu nhiên trên 40 bệnh nhân PXE 89. Bệnh nhân dùng sevelamer hydrochloride 800 mg đường uống ba lần mỗi ngày hoặc dùng giả dược trong một năm. Trong năm đầu điều trị, ghi nhận sự sụt giảm điểm canxi của các sợi đàn hồi ở da. Điểm lâm sàng trung bình của các tổn thương da cũng cải thiện, trong khi không ghi nhận sự tiến triển xấu đi của các tổn thương ở mắt. Việc diễn giải các dữ liệu này gặp khó khăn do cả giả dược và thuốc điều trị đều chứa magnesium stearate, chất này có thể đã mang lại một lợi ích điều trị nhỏ cho cả hai nhóm. Cần có các thử nghiệm lâm sàng lớn hơn với thiết kế chặt chẽ hơn để đánh giá vai trò của thuốc gắn phosphate trong điều trị PXE.

Liệu pháp thay thế enzyme – ENPP1 tái tổ hợp hợp nhất với thành phần Fc của immunoglobulin G (IgG) đã được chứng minh là làm tăng nồng độ PPi và ngăn ngừa vôi hóa lạc chỗ trên chuột thiếu hụt Abcc 90, và hiện đang được đánh giá trong một thử nghiệm lâm sàng trên người (NCT05030831).

Thai kỳ

Hầu hết các thai kỳ ở bệnh nhân PXE đều diễn ra bình thường và không có cơ sở để khuyến cáo chống chỉ định mang thai. Một nghiên cứu hồi cứu trên gần 800 trường hợp mang thai cho thấy không có bằng chứng về việc gia tăng tỷ lệ mất thai hoặc các kết cục sinh sản bất lợi ở bệnh nhân PXE 91.

Xuất huyết dạ dày, vốn trước đây được cho là rủi ro chính trong thai kỳ, thực tế ít gặp hơn so với nhận định trước đó. Mặc dù một số bệnh nhân ghi nhận các biểu hiện ngoài da trầm trọng hơn trong khi mang thai, nhưng tình trạng này không phổ biến. Không có mối tương quan giữa số lần mang thai hoặc tiền sử mang thai với mức độ nghiêm trọng cuối cùng của các biểu hiện tại da, mắt hoặc tim mạch.

Tuy nhiên, những bệnh nhân mang thai có tân mạch võng mạc có thể cần cân nhắc sinh mổ nếu có tình trạng rò rỉ hoạt động vào thời điểm chuyển dạ và cần được theo dõi chặt chẽ bởi các chuyên gia võng mạc. Tăng huyết áp liên quan đến thai kỳ có thể cần đến sự chăm sóc của chuyên gia y học bào thai.

TƯ VẤN DI TRUYỀN

PXE di truyền theo quy luật lặn trên nhiễm sắc thể thường. Xét nghiệm di truyền nên được chỉ định cho mỗi cha mẹ và bạn đời của ca bệnh chỉ điểm (proband) để xác nhận trạng thái mang biến thể gây bệnh của gen ABCC6, từ đó đánh giá chính xác nguy cơ cho các lần mang thai tiếp theo 1.

Nếu cha mẹ của trẻ mắc bệnh được xác nhận là dị hợp tử với biến thể gây bệnh ABCC6, thì tại thời điểm thụ thai, mỗi anh chị em ruột có xác suất như sau:

  • 25% xác suất mắc bệnh.
  • 50% xác suất là người mang gen không triệu chứng.
  • 25% xác suất không mắc bệnh và không mang gen 1.

Vì anh chị em của bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh, họ nên được đề xuất tầm soát thông qua thăm khám và khai thác tiền sử lâm sàng; đồng thời thực hiện xét nghiệm di truyền nếu các biến thể trong gia đình đã được xác định.