TÓM TẮT
Định nghĩa u tuyến thượng thận tình cờ – U tuyến thượng thận tình cờ là một tổn thương dạng khối có đường kính lớn hơn 1 cm, được phát hiện tình cờ thông qua chẩn đoán hình ảnh. Thực thể này là kết quả của những tiến bộ trong công nghệ chẩn đoán hình ảnh như CT và MRI. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Kiểu hình hình ảnh – Tất cả bệnh nhân có u tuyến thượng thận tình cờ cần được đánh giá khả năng ác tính. Kích thước và đặc điểm hình ảnh (“kiểu hình hình ảnh”) của khối u giúp định hướng khối u là lành tính hay ác tính. (Xem ‘Đánh giá khả năng ác tính’ ở dưới.)
Adenoma vỏ thượng thận lành tính – Một khối u thượng thận đồng nhất, đường kính <4 cm, bờ đều và giá trị tỷ trọng CT không thuốc <10 đơn vị Hounsfield (HU) rất có khả năng là adenoma vỏ thượng thận lành tính. (Xem ‘Chụp CT’ ở dưới.)
Ung thư biểu mô vỏ thượng thận hoặc di căn – Các đặc điểm hình ảnh gợi ý ung thư biểu mô vỏ thượng thận hoặc di căn bao gồm: hình dạng không đều, tỷ trọng không đồng nhất, tỷ trọng CT không thuốc cao (>20 HU), đường kính >4 cm và có vôi hóa trong u. Các đặc điểm khác đã được mô tả ở trên. (Xem ‘Ung thư biểu mô vỏ thượng thận’ ở dưới.)
Đánh giá chức năng bài tiết hormone – Tất cả bệnh nhân có u tuyến thượng thận tình cờ nên được đánh giá khả năng tăng tiết hormone dưới lâm sàng.
- U tủy thượng thận (Pheochromocytoma) – Cần loại trừ u tủy thượng thận ở tất cả bệnh nhân có u tuyến thượng thận tình cờ với tỷ trọng CT không thuốc >10 HU bằng cách định lượng metanephrines và catecholamines phân đoạn trong nước tiểu 24 giờ hoặc metanephrines phân đoạn trong huyết tương. (Xem ‘U tủy thượng thận’ ở dưới.)
- Hội chứng Cushing dưới lâm sàng – Cần loại trừ hội chứng Cushing dưới lâm sàng bằng cách đo nồng độ dehydroepiandrosterone sulfate (DHEAS) nền và thực hiện nghiệm pháp ức chế dexamethasone (DST) 1 mg qua đêm. Để phát hiện tình trạng tự trị bài tiết glucocorticoid có ý nghĩa lâm sàng, ngưỡng nồng độ cortisol huyết thanh lúc 8 giờ sáng sau DST 1 mg qua đêm là >1,8 mcg/dL (>50 nmol/L). Kết quả DST 1 mg qua đêm bất thường gợi ý tình trạng sản xuất cortisol độc lập với corticotropin (ACTH), kết quả này cần được xác nhận bằng cortisol tự do trong nước tiểu 24 giờ, nồng độ ACTH huyết thanh và DST liều cao (8 mg) qua đêm. (Xem ‘Hội chứng Cushing dưới lâm sàng’ ở dưới.)
- Cường aldosteron nguyên phát (ở một số bệnh nhân chọn lọc) – Nếu bệnh nhân u tuyến thượng thận tình cờ có tăng huyết áp hoặc hạ kali máu, cần đo nồng độ aldosterone huyết tương và hoạt độ renin huyết tương để tầm soát cường aldosteron nguyên phát. (Xem ‘Aldosteronoma’ ở dưới.)
Xử trí
- U tủy thượng thận – Chúng tôi khuyến cáo phẫu thuật cho tất cả bệnh nhân có bằng chứng sinh hóa của u tủy thượng thận. Việc quản lý tiền phẫu và tiếp cận phẫu thuật cho bệnh nhân u tủy thượng thận được xem xét ở phần khác. (Xem “Điều trị u tủy thượng thận ở người trưởng thành”.)
- Hội chứng Cushing dưới lâm sàng – Chúng tôi gợi ý phẫu thuật cắt bỏ cho những bệnh nhân có hội chứng Cushing dưới lâm sàng đủ điều kiện phẫu thuật và có các rối loạn có khả năng do tăng tiết glucocorticoid (ví dụ: mới khởi phát tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì và/hoặc giảm khối lượng xương) (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Khối u thượng thận một bên’ ở dưới.)
- Nghi ngờ bệnh di căn – Ở bệnh nhân đã biết có khối u nguyên phát ở nơi khác, khi phát hiện u tuyến thượng thận mới có kiểu hình hình ảnh phù hợp với di căn, có thể chỉ định chọc hút kim nhỏ (FNA) dưới hướng dẫn của CT để chẩn đoán, nhưng chỉ thực hiện sau khi đã loại trừ u tủy thượng thận bằng xét nghiệm sinh hóa. Không cần sinh thiết tuyến thượng thận nếu bệnh nhân đã xác định có bệnh di căn lan tỏa. (Xem ‘Chọc hút kim nhỏ’ ở dưới.)
- Nghi ngờ ung thư biểu mô – Chúng tôi gợi ý phẫu thuật cắt bỏ nếu kiểu hình hình ảnh ban đầu nghi ngờ (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Khối u thượng thận một bên’ ở dưới.)
- Khối u >4 cm – Ở bệnh nhân có khối u tuyến thượng thận đường kính lớn hơn 4 cm, chúng tôi cân nhắc phẫu thuật cắt bỏ. Tuy nhiên, bệnh cảnh lâm sàng, đặc điểm hình ảnh và tuổi bệnh nhân thường là yếu tố dẫn dắt quyết định xử trí đối với những u tuyến thượng thận nằm quanh ngưỡng 4 cm. (Xem ‘Kích thước’ ở dưới và ‘Khối u thượng thận một bên’ ở dưới.)
- Phẫu thuật cắt tuyến thượng thận – Phương pháp nội soi được áp dụng cho hầu hết các khối u tuyến thượng thận. Ở bệnh nhân ung thư biểu mô vỏ thượng thận (đã xác định hoặc nghi ngờ), chỉ cân nhắc phẫu thuật nội soi nếu khối u <6 cm và không có dấu hiệu xâm lấn tại chỗ. Đối với tất cả các khối u lớn hơn 10 cm, bao gồm cả những khối có kiểu hình hình ảnh lành tính, chúng tôi gợi ý phẫu thuật mở thay vì phẫu thuật nội soi (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Phẫu thuật cắt tuyến thượng thận’ ở dưới.)
Theo dõi khi không phẫu thuật
- Chẩn đoán hình ảnh kiểm tra – Đối với các u tình cờ có hình ảnh lành tính, chúng tôi thực hiện chẩn đoán hình ảnh kiểm tra sau 12 tháng kể từ lần phát hiện đầu tiên. Lý do là nhiều tổn thương ác tính sẽ phát triển trong khoảng thời gian này, giúp can thiệp sớm hơn. Việc thực hiện thêm các lần chẩn đoán hình ảnh (ví dụ: lúc 6, 12 và 24 tháng) và lựa chọn phương pháp (ví dụ: CT, MRI hoặc siêu âm) nên dựa trên đánh giá lâm sàng và kiểu hình hình ảnh. Hiệu quả và tính kinh tế của chiến lược này hiện chưa rõ. (Xem ‘Theo dõi khi không phẫu thuật’ ở dưới.)
- Khối u tăng kích thước trong thời gian theo dõi – Chúng tôi gợi ý cắt bỏ bất kỳ khối u nào tăng đường kính hơn 1 cm trong giai đoạn theo dõi (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Theo dõi khi không phẫu thuật’ ở dưới.)
- Theo dõi sinh hóa – Chúng tôi gợi ý đo lại DHEAS nền và DST qua đêm hàng năm trong 4 năm đối với những trường hợp đánh giá ban đầu cho kết quả âm tính, mặc dù hiệu quả và tính kinh tế của việc xét nghiệm này cũng chưa rõ. Chức năng tự trị (tăng tiết glucocorticoid) không xuất hiện ở thời điểm ban đầu có thể được phát hiện trong các lần theo dõi sau. (Xem ‘Theo dõi khi không phẫu thuật’ ở dưới.)
