TÓM TẮT
- Cơ hoành và tổn thương cơ hoành
Cơ hoành là ranh giới giữa thành cơ và gân giữa khoang ngực và khoang bụng, đóng vai trò quan trọng trong chức năng hô hấp bình thường. Tổn thương cơ hoành không phổ biến, chiếm chưa đến 1% trong tất cả các chấn thương. Cần có sự nghi ngờ cao đối với tổn thương này vì chẩn đoán muộn làm tăng nguy cơ thoát vị và nghẹt các tạng bụng, có thể đe dọa tính mạng. (Xem ‘Giải phẫu cơ hoành’ ở dưới và ‘Nhận biết tổn thương cơ hoành’ ở dưới.)
- Cơ chế tổn thương cơ hoành
Sự nghi ngờ tổn thương cơ hoành bắt đầu từ việc xác định cơ chế chấn thương, khám lâm sàng và đánh giá các tổn thương phối hợp. Tổn thương trực tiếp vào cơ hoành do vật sắc nhọn hoặc đạn dược xuyên qua cơ hoành. Tổn thương gián tiếp do sự gia tăng đột ngột áp lực ổ bụng đủ mạnh để vượt quá sức bền của các mô cơ hoành. Do đó, chấn thương xuyên thấu thường để lại các vết rách nhỏ, dễ bị bỏ sót hơn so với vỡ do chấn thương kín (vốn thường gây ra các vết rách lớn theo hình tia) (Xem ‘Nhận biết tổn thương cơ hoành’ ở dưới.)
- Các tổn thương phối hợp
Cơ hoành thường tổn thương kèm theo các cơ quan khác ở ngực và bụng. Các chấn thương kín có tỷ lệ phối hợp cao (>30%) với tổn thương cơ hoành bao gồm tràn máu màng phổi, tổn thương gan và tổn thương lách. Bất kỳ cơ chế xuyên thấu nào liên quan đến các cơ quan ở cả hai bên cơ hoành đều có khả năng kèm theo tổn thương cơ hoành. (Xem ‘Các tổn thương phối hợp’ ở dưới.)
- Đánh giá chẩn đoán
Cơ chế chấn thương và các dấu hiệu lâm sàng có thể gợi ý nhu cầu thực hiện thêm các thăm dò ngoài chụp X-quang ngực thẳng. CT là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đầu tay được sử dụng để chẩn đoán tổn thương cơ hoành. Các đặc điểm phù hợp với tổn thương cơ hoành trên phim CT đã được liệt kê ở trên. Các phương pháp thay thế khác bao gồm siêu âm hoặc cộng hưởng từ (MRI). Các vết rách nhỏ, đặc biệt là tổn thương xuyên thấu bên phải, có thể không được phát hiện bởi bất kỳ phương pháp chẩn đoán hình ảnh nào. (Xem ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới.)
Xử trí
Những bệnh nhân có huyết động ổn định, kết quả thăm khám lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh âm tính có thể được theo dõi (phác đồ 1). Các tổn thương cơ hoành nhỏ bên phải ở bệnh nhân huyết động ổn định có thể được xử trí theo hướng theo dõi bảo tồn. Bệnh nhân được theo dõi cần được giám sát các dấu hiệu hoặc triệu chứng gợi ý thoát vị. (Xem ‘Hướng tiếp cận xử trí’ ở dưới.)
Phẫu thuật thăm dò nội soi ổ bụng hoặc nội soi lồng ngực (có hoặc không có sự hỗ trợ của robot) có thể cần thiết để chẩn đoán (đồng thời tạo cơ hội để khâu phục hồi) cho những trường hợp vẫn có nghi ngờ cao về tổn thương cơ hoành dù kết quả chẩn đoán hình ảnh âm tính.
Tất cả các tổn thương cơ hoành bên trái và hầu hết các tổn thương bên phải cần được khâu phục hồi ngay khi được phát hiện (phác đồ 1). Các tổn thương cơ hoành cấp tính được khâu phục hồi qua đường bụng, thường kết hợp với thăm dò ổ bụng để xác định và xử trí các tổn thương phối hợp khác. Cơ hoành được khâu phục hồi nguyên phát trừ khi có khiếm khuyết lớn, khi đó sẽ sử dụng vật liệu nhân tạo với điều kiện không có nhiễm bẩn đại tràng. (Xem ‘Phẫu thuật’ ở dưới.)
- Tử vong và biến chứng
Tỷ lệ tử vong chung liên quan đến tổn thương cơ hoành là 25%, chủ yếu do sự hiện diện của các tổn thương ngực hoặc bụng đe dọa tính mạng, nhưng cũng có thể do các biến chứng của chính tổn thương đó. Các biến chứng của tổn thương cơ hoành bao gồm thoát vị tạng, di chứng phổi do thay đổi cơ học hô hấp, liệt cơ hoành và rò màng phổi. Trong số các biến chứng này, thoát vị tạng là nguyên nhân gây tử vong cao nhất do thiếu máu cục bộ và nhồi máu ruột. (Xem ‘Tử vong’ ở dưới và ‘Biến chứng của tổn thương cơ hoành’ ở dưới.)
