TÓM TẮT
Các loại sai sót của con người
Các sai sót cá nhân trong phòng mổ (OR) bao gồm: lỗi giao tiếp, lỗi nhận thức (dựa trên hành động như áp dụng các quy tắc hoặc kỹ năng, hoặc dựa trên quyết định như khả năng phán đoán hoặc kiến thức) và các lỗi kỹ thuật. (Xem ‘Các loại sai sót của con người’ ở dưới.)
Các phương pháp giảm thiểu rủi ro
Kiểm tra thiết bị và máy móc theo quy trình chuẩn
(Xem ‘Kiểm tra máy móc và thiết bị theo quy trình chuẩn’ ở dưới.)
Máy gây mê
Việc tuân thủ quy trình kiểm tra máy gây mê chuẩn trước khi sử dụng sẽ giúp tránh hầu hết các sự cố nghiêm trọng liên quan đến việc sử dụng sai hoặc hư hỏng máy gây mê (bảng 3). Công tác chuẩn bị cần bao gồm việc kiểm tra chức năng của các thiết bị đường thở nâng cao, thiết bị gây mê và thiết bị theo dõi. (Xem “Máy gây mê: Dự phòng, chẩn đoán và xử trí hư hỏng”, phần ‘Kiểm tra máy gây mê theo quy trình chuẩn'”.)
Timeouts, briefing và debriefing
Trước khi vào phòng mổ
Việc xem xét văn bản đồng thuận phẫu thuật và quy trình xác nhận ban đầu được thực hiện tại khu vực chuẩn bị trước mổ trước khi vào phòng mổ. Quy trình này cần ít nhất hai người thực hiện, lý tưởng nhất là bao gồm bác sĩ gây mê, phẫu thuật viên và điều dưỡng tiền mê; tất cả cùng xác nhận danh tính bệnh nhân bằng ít nhất hai thông tin định danh, cũng như chính xác quy trình, bên, vị trí và/hoặc tầng phẫu thuật. Nếu có kế hoạch gây tê vùng, cần thực hiện một bước timeout riêng biệt ngay trước khi bắt đầu thủ thuật gây tê tại khu vực tiền mê (hoặc trong một số trường hợp là sau khi đã vào phòng mổ). (Xem ‘Trước khi vào phòng mổ’ ở dưới.)
Briefing và timeout tại phòng mổ
Các bước timeout ngắn được thực hiện trước khi khởi mê và trước khi rạch da, với sự tham gia của toàn bộ ê-kíp phòng mổ (ví dụ: phẫu thuật viên, bác sĩ gây mê, điều dưỡng vòng ngoài, kỹ thuật viên dụng cụ). Thông thường, các danh mục kiểm tra (checklist) chuẩn hóa như của Joint Commission về surgical timeouts hoặc danh mục an toàn phẫu thuật của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) sẽ được sử dụng (bảng 4 và bảng 5). Lý tưởng nhất, bên cạnh hoặc kết hợp với timeout, một buổi họp nhanh (briefing hoặc “huddle”) do phẫu thuật viên dẫn dắt nên được thực hiện kỹ lưỡng hơn trước phẫu thuật. (Xem ‘Timeout và briefing trong phòng mổ’ ở dưới.)
Debriefing (Họp rút kinh nghiệm)
Vào cuối thủ thuật, trước khi rời phòng mổ, một bước sign out (bàn giao cuối) sẽ diễn ra, lý tưởng nhất là một phần của quy trình debriefing chi tiết hơn. Việc này nhằm đảm bảo tất cả các bước đã được hoàn tất, đồng thời nhận diện các nguy cơ và đề xuất các cải tiến. (Xem ‘Tổng kết sau mổ’ ở dưới.)
Bàn giao (Handoffs)
Chúng tôi áp dụng các quy trình bàn giao chuẩn hóa chính thức trong quá trình chuyển giao chăm sóc bệnh nhân từ phòng mổ sang đơn vị hồi tỉnh (PACU) hoặc đơn vị hồi sức tích cực (ICU). (Xem “Bàn giao bệnh nhân phẫu thuật”.)
Kỹ năng phi kỹ thuật
Các kỹ năng phi kỹ thuật để giảm thiểu rủi ro bao gồm việc hạn chế tối đa sự xao nhãng, duy trì sự tỉnh táo và nhận thức về tình huống. (Xem ‘Kỹ năng phi kỹ thuật’ ở dưới.)
Chiến lược quản lý các mối nguy và hệ thống cụ thể
Sai quy trình hoặc sai vị trí
Các yếu tố góp phần bao gồm: giao tiếp kém, không đánh dấu vị trí phẫu thuật, đặt tư thế bệnh nhân không đúng, thực hiện nhiều thủ thuật trên cùng một bệnh nhân, phẫu thuật cấp cứu, phẫu thuật viên mệt mỏi, có nhiều phẫu thuật viên cùng tham gia, áp lực thời gian bất thường và/hoặc giải phẫu bệnh nhân bất thường. Các cơ hội xác nhận liên tiếp nhiều lần được thiết kế để phát hiện và ngăn ngừa các sai sót tiềm tàng. (Xem ‘Sai sót quy trình hoặc sai vị trí’ và ‘Timeouts, briefing và debriefing’ ở dưới.)
Sai sót thuốc
(Xem “Dự phòng sai sót thuốc trong chu kỳ quanh phẫu thuật” và “Các thiết bị truyền dịch tĩnh mạch dùng trong chu kỳ quanh phẫu thuật”, phần ‘Nguy cơ sai sót thuốc'”.)
Các chấn thương vật lý tiềm tàng
Các chấn thương vật lý tiềm tàng bao gồm chấn thương do tư thế, chấn thương mắt, bỏ quên dụng cụ phẫu thuật và các chấn thương do bức xạ, hỏa hoạn hoặc điện giật. (Xem ‘Các chấn thương vật lý tiềm tàng’ ở dưới.)
Tỉnh táo trong khi gây mê
Cảm giác đau và khủng hoảng tâm lý có thể là hệ quả của tình trạng tỉnh táo trong khi gây mê. (Xem “Tỉnh táo trong khi gây mê toàn thân”.)
Các phương pháp tiếp cận cấp hệ thống và tổ chức để cải thiện an toàn
Báo cáo sự cố và kết quả đi kèm với việc triển khai các thay đổi hệ thống
Việc báo cáo sự cố và kết quả được sử dụng để xác định các lỗ hổng của hệ thống, triển khai các thực hành tốt nhất dựa trên bằng chứng và thiết lập các quy trình cải thiện an toàn toàn diện. (Xem ‘Báo cáo sự cố và kết quả đi kèm với việc triển khai các thay đổi hệ thống’ ở dưới.)
Đào tạo nhóm và đào tạo mô phỏng
Đào tạo nhóm giúp dạy các chiến lược giao tiếp hiệu quả trong quá trình timeout và briefing, quản lý xung đột và chuyển giao chăm sóc an toàn. Đào tạo mô phỏng được thiết kế để cải thiện khả năng quản lý các tình huống khủng hoảng. (Xem ‘Đào tạo nhóm và đào tạo mô phỏng’ ở dưới.)
