TÓM TẮT
- Các loại dẫn lưu phân
Lỗ mở thông là một miệng nối có chủ đích giữa một đoạn đường tiêu hóa và da thành bụng trước. Các phương pháp dẫn lưu phân thường được phân loại dựa trên đoạn ruột được sử dụng để tạo lỗ mở thông (ví dụ: đại tràng sigma, đại tràng, hồi tràng) và phương pháp phẫu thuật (ví dụ: vòng, tận, túi chứa). Chỉ định dẫn lưu phân bằng cách tạo lỗ mở thông (hồi tràng mở thông, đại tràng mở thông) khi việc phục hồi sự liên tục của đường ruột có chống chỉ định hoặc không thể thực hiện ngay lập tức do tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. (Xem ‘Dẫn lưu phân’ ở trên.)
- Chuẩn bị tiền phẫu
Đánh giá tiền phẫu bao gồm tư vấn và lựa chọn vị trí. Đối với các phẫu thuật chương trình, ưu tiên việc xác định vị trí lỗ mở thông trước mổ bởi điều dưỡng chuyên khoa chăm sóc lỗ mở thông thay vì chọn vị trí trong lúc mổ. Trong trường hợp không có điều dưỡng chuyên khoa (như khi phẫu thuật cấp cứu, đặc biệt là ngoài giờ hành chính), việc bác sĩ phẫu thuật giàu kinh nghiệm lựa chọn vị trí và tư vấn cho bệnh nhân trước mổ cũng là phương án phù hợp, tuy nhiên cần chuyển bệnh nhân đến gặp điều dưỡng chuyên khoa để được tư vấn thêm trong giai đoạn hậu phẫu. (Xem ‘Lựa chọn và đánh dấu vị trí’ ở trên và ‘Chuẩn bị và tư vấn’ ở trên.)
- Lựa chọn vị trí lỗ mở thông
Lỗ mở thông nên được đặt ở một bên đường giữa bụng, ngay phía ngoài và phía dưới rốn. Bệnh nhân phải có khả năng quan sát và tiếp cận lỗ mở thông một cách dễ dàng. Để đảm bảo độ bám dính tối ưu của túi chứa, vị trí lỗ mở thông phải cách ít nhất 5 cm so với tất cả các nếp gấp, nếp nhăn, vết mổ cũ, đường thắt lưng, rốn và các điểm xương lồi. (Xem ‘Lựa chọn và đánh dấu vị trí’ ở trên.)
- Tiếp cận qua nội soi
Đối với những bệnh nhân được chỉ định tạo lỗ mở thông giải áp (ví dụ: giải quyết tắc ruột) là chỉ định duy nhất và chưa trải qua nhiều cuộc phẫu thuật bụng trước đó, chúng tôi đề xuất phương pháp tiếp cận qua nội soi thay vì phẫu thuật mở bụng ( Khuyến cáo 2C ). (Xem ‘Vai trò của nội soi’ ở trên.)
- Dẫn lưu tạm thời
Đối với những bệnh nhân cần tạo lỗ mở thông vòng tạm thời chỉ nhằm mục đích dẫn lưu, chúng tôi sử dụng hồi tràng mở thông vòng dẫn lưu thay vì đại tràng mở thông vòng dẫn lưu. Việc đảo lưu hồi tràng mở thông vòng dễ dàng hơn so với đại tràng mở thông vòng. Tuy nhiên, khi cần dẫn lưu phân vĩnh viễn hoặc cần dẫn lưu ngay lập tức, chúng tôi ưu tiên sử dụng đại tràng mở thông nếu điều kiện cho phép, thay vì hồi tràng mở thông, đặc biệt là ở bệnh nhân lớn tuổi. Đại tràng mở thông ít có nguy cơ gây mất nước và rối loạn điện giải hơn.
- Đặt lưới dự phòng
Đối với những bệnh nhân được tạo lỗ mở thông vĩnh viễn, chúng tôi không đề xuất đặt lưới dự phòng một cách thường quy ( Khuyến cáo 2C ). Việc đặt lưới tại thời điểm tạo lỗ mở thông vẫn còn gây tranh cãi và có liên quan đến việc giảm tỷ lệ hình thành thoát vị cạnh lỗ mở thông trong một số nghiên cứu nhưng lại không ở các nghiên cứu khác. Khi lựa chọn đặt lưới, lưới nhân tạo thường an toàn và được ưu tiên hơn; lưới sinh học có thể được ưu tiên trong các trường hợp nhiễm khuẩn hoặc ở bệnh nhân mắc bệnh viêm ruột (do nguy cơ tái phẫu thuật cao hơn). Hầu hết các loại lưới được đặt ở vị trí sau cơ (sublay). (Xem ‘Lưới dự phòng’ ở trên và “Thoát vị cạnh lỗ mở thông” .)
- Đảo lưu lỗ mở thông
Việc đảo lưu lỗ mở thông tạm thời được trì hoãn cho đến khi tình trạng bệnh lý cơ bản đã ổn định, bệnh nhân phục hồi về trạng thái nền và tình trạng viêm đã thuyên giảm kèm theo sự mềm hóa các dính, quá trình này có thể mất đến ba tháng. Việc đóng lỗ mở thông thường có thể thực hiện tại chỗ bằng cách giải phóng lỗ mở thông xung quanh thành bụng và sử dụng máy khâu nối để tạo miệng nối đầu-đối-đầu chức năng kiểu bên-đối-bên. Nếu không thể thực hiện khâu nối bằng máy, có thể tiến hành khâu nối bằng tay. (Xem ‘Đảo lưu lỗ mở thông’ ở trên.)
