Rối loạn lưỡng cực ở phụ nữ sau sinh: Dịch tễ học, đặc điểm lâm sàng, đánh giá và chẩn đoán

TÓM TẮT

  • Định nghĩa giai đoạn hậu sản

    Các giai đoạn rối loạn khí sắc lưỡng cực hậu sản khởi phát trong một khoảng thời gian giới hạn sau khi sinh con sống; định nghĩa về thời kỳ hậu sản dao động từ tháng thứ 1 đến tháng thứ 12 sau sinh. (Xem thêm ‘Định nghĩa giai đoạn hậu sản’ ở dưới.)

  • Nguy cơ tái phát

    Ở phụ nữ mắc rối loạn lưỡng cực, tỷ lệ tái phát các giai đoạn rối loạn khí sắc sau sinh là khoảng 38%. (Xem thêm ‘Bối cảnh lâm sàng’ ở dưới.)

  • Cơ chế bệnh sinh

    Nguyên nhân gây ra các giai đoạn rối loạn khí sắc lưỡng cực hậu sản hiện chưa được xác định rõ. Các yếu tố tiềm tàng bao gồm sự sụt giảm nồng độ estrogen và progesterone trong huyết thanh, rối loạn giấc ngủ, gia tăng căng thẳng (stress), các vấn đề xã hội và yếu tố di truyền. (Xem thêm ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)

  • Biểu hiện lâm sàng

    Rối loạn lưỡng cực đặc trưng bởi các giai đoạn trầm cảm chủ yếu (bảng 1), hưng cảm (bảng 2) và hưng cảm nhẹ (bảng 3). Loại hình phổ biến nhất trong giai đoạn hậu sản là trầm cảm chủ yếu; các triệu chứng loạn thần (ví dụ: hoang tưởng và ảo giác) thường xuất hiện trong các giai đoạn trầm cảm chủ yếu hoặc hưng cảm. Đa số các đợt khởi phát hậu sản xảy ra trong vài tuần đầu (ví dụ: 4 tuần) sau sinh, với thời gian kéo dài trung bình từ 1 đến 3 tháng. (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

  • Diễn tiến bệnh

    Diễn tiến bệnh ở những bệnh nhân lưỡng cực có tiền sử rối loạn khí sắc hậu sản và những người không có tiền sử này không có sự khác biệt rõ rệt. Sau đợt rối loạn khí sắc lưỡng cực hậu sản thường là các đợt tái phát tiếp theo, có thể xảy ra trong hoặc ngoài thời kỳ hậu sản. Tuy nhiên, diễn tiến bệnh có xu hướng lành tính hơn nếu đợt rối loạn khí sắc đầu tiên trong đời khởi phát trong giai đoạn hậu sản thay vì khởi phát ở thời điểm khác. (Xem thêm ‘Diễn tiến bệnh’ ở dưới.)

  • Đánh giá

    Việc đánh giá bệnh nhân hậu sản nghi ngờ mắc rối loạn lưỡng cực bao gồm khai thác tiền sử tâm thần và nội khoa, khám trạng thái tâm thần và khám thực thể, cùng các xét nghiệm cận lâm sàng chọn lọc; trong đó tập trung vào các triệu chứng khí sắc và loạn thần, bao gồm cả ý tưởng tự sát và sát hại người khác. Tình trạng hưng cảm nhẹ hậu sản cũng như tiền sử hưng cảm nhẹ thường dễ bị bỏ sót trong quá trình chẩn đoán. (Xem thêm ‘Đánh giá’ ở dưới.)

  • Sàng lọc

    Công cụ tự báo cáo được sử dụng rộng rãi nhất để sàng lọc hưng cảm và hưng cảm nhẹ là Bảng câu hỏi Rối loạn khí sắc (Mood Disorder Questionnaire) (bảng 4), và đối với trầm cảm chủ yếu là Bảng câu hỏi Sức khỏe Bệnh nhân – 9 câu (Patient Health Questionnaire – 9) (bảng 5). (Xem thêm ‘Sàng lọc’ ở dưới.)

  • Chẩn đoán

    Các phân thể của rối loạn lưỡng cực có thể được chẩn đoán ở bệnh nhân hậu sản bao gồm rối loạn lưỡng cực type I, rối loạn lưỡng cực type II, rối loạn khí sắc chu kỳ và các rối loạn lưỡng cực đặc định khác. (Xem thêm ‘Chẩn đoán’ ở dưới và “Rối loạn lưỡng cực ở người trưởng thành: Đánh giá và chẩn đoán”, phần ‘Chẩn đoán’.)

  • Chẩn đoán phân biệt

    Chẩn đoán phân biệt của rối loạn lưỡng cực bao gồm phân liệt tâm thần, rối loạn phân liệt cảm xúc, trầm cảm chủ yếu đơn cực và rối loạn sử dụng chất. (Xem thêm “Rối loạn lưỡng cực ở người trưởng thành: Đánh giá và chẩn đoán”, phần ‘Chẩn đoán phân biệt’.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here