TÓM TẮT
- Thay đổi sinh lý – Lão hóa, đặc trưng bởi những thay đổi tiến triển làm tăng mức độ nhạy cảm với nhiều bệnh lý, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền, lối sống và môi trường. Một số nguyên lý sinh lý chủ đạo của quá trình lão hóa bao gồm: giảm độ phức tạp (thể hiện qua sự biến thiên nhịp tim giảm), thay đổi nhịp sinh học và suy giảm dự trữ sinh lý cần thiết để duy trì trạng thái cân bằng nội môi. (Xem thêm ‘Thay đổi sinh lý liên quan đến tuổi tác’ ở dưới.)
- Hệ tạo máu – Dự trữ chức năng của tủy xương giảm, đáp ứng chậm hơn với tình trạng mất máu hoặc thiếu oxy. Chức năng bạch cầu suy giảm và độc tính trên tủy do hóa trị thường tăng lên. Tuổi cao dẫn đến trạng thái tăng đông, tăng đáp ứng của tiểu cầu và tăng nồng độ các yếu tố đông máu. (Xem thêm ‘Hệ tạo máu’ ở dưới.)
- Hệ tiêu hóa – Viêm thực quản trào ngược, do thay đổi co bóp và trương lực cơ thắt, thường gặp ở người cao tuổi và có thể ảnh hưởng đến dinh dưỡng. Nhiễm Helicobacter pylori phổ biến, đồng thời tăng nhạy cảm với các tác nhân gây kích ứng dạ dày như thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs). Các thay đổi ở đại tràng bao gồm thay đổi nhu động gây táo bón, giảm đáp ứng tạng đối với thủng ruột hoặc thiếu máu cục bộ, hình thành túi thừa đại tràng và tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng. (Xem thêm ‘Đường tiêu hóa’ ở dưới.)
- Hệ thận – Khối lượng và chức năng thận suy giảm, giảm độ thanh thải creatinine, giảm khả năng pha loãng nước tiểu tối đa hoặc bài tiết tải lượng acid. Thận ở người cao tuổi dễ tổn thương do độc tính của thuốc hoặc thuốc cản quang đường tĩnh mạch. (Xem thêm ‘Hệ thận’ ở dưới.)
- Hệ tim mạch – Khó có thể tách biệt tác động của riêng tuổi tác đối với hệ tim mạch, vì tuổi cao làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, bệnh động mạch vành và lối sống ít vận động. Nhịp tim tối đa giảm theo tuổi, cũng như giảm đáp ứng bù trừ của phân suất tống máu thất trái (LVEF) khi gắng sức. Vòng van động mạch chủ và van hai lá dày lên, kèm theo sự hình thành các lắng đọng vôi hóa van tim. (Xem thêm ‘Hệ tim mạch’ ở dưới.)
- Hệ hô hấp – Khoảng một phần ba diện tích bề mặt trên thể tích mô phổi bị mất đi trong suốt cuộc đời, dẫn đến tăng khoảng chết giải phẫu và giảm dự trữ chức năng. Tuổi cao làm tăng chênh lệch oxy phế nang-động mạch (A-a), biểu hiện rõ rệt hơn ở tư thế nằm so với tư thế ngồi. Phản xạ ho ở người cao tuổi kém mạnh hơn và khả năng làm sạch nhầy – lông chuyển chậm hơn. (Xem thêm ‘Hệ hô hấp’ ở dưới.)
- Hệ sinh dục – tiết niệu – Những thay đổi do lão hóa ở hệ sinh dục – tiết niệu làm tăng nguy cơ són tiểu, nhiễm trùng đường tiết niệu, rối loạn cương dương và đau khi giao hợp. (Xem thêm ‘Hệ sinh dục – tiết niệu’ ở dưới.)
- Hệ cơ xương khớp – Khi lão hóa, khối lượng cơ giảm so với trọng lượng cơ thể, dẫn đến suy giảm khả năng vận động và thăng bằng, đồng thời làm tăng tình trạng kháng insulin và thay đổi thể tích phân bố của các thuốc tan trong nước. Lão hóa làm tăng xác suất gãy xương và làm chậm tốc độ phục hồi. Việc tăng cường vận động chịu lực có thể cải thiện mật độ khoáng xương và ngăn ngừa mất xương do tuổi tác. (Xem thêm ‘Hệ cơ xương khớp’ ở dưới.)
- Da – Quá trình lão hóa da tự nhiên dẫn đến teo da, giảm độ đàn hồi, suy giảm đáp ứng chuyển hóa và phục hồi. Hiện tượng lão hóa do ánh sáng (photoaging), chứ không phải lão hóa sinh lý, gây ra 90% những thay đổi không mong muốn về mặt thẩm mỹ của làn da. (Xem thêm ‘Da’ ở dưới.)
- Hệ giác quan – Lão thị là do những thay đổi liên quan đến tuổi tác ở thủy tinh thể và mống mắt. Những thay đổi ở hệ thính giác gây suy giảm khả năng nghe tần số cao và hạn chế nhận biết lời nói trong môi trường ồn ào. Mất vị giác ở bệnh nhân cao tuổi phần lớn là do suy giảm khứu giác hơn là do chính vị giác. Giảm cảm giác nếm và ngửi có thể dẫn đến giảm cảm giác ngon miệng và gây thiếu hụt dinh dưỡng. (Xem thêm ‘Hệ giác quan’ ở dưới.)
- Chức năng miễn dịch – Suy giảm chức năng miễn dịch khi lão hóa là một trong những thay đổi quan trọng nhất, góp phần làm tăng tần suất nhiễm trùng và bệnh lý ác tính. Sự lão hóa miễn dịch (immunosenescence) liên quan đến việc mất khả năng điều hòa các quá trình viêm. Người cao tuổi có đặc điểm cytokine tương ứng với trạng thái viêm mạn tính mức độ thấp, đôi khi được gọi là “inflammaging”. (Xem thêm “Chức năng miễn dịch ở người cao tuổi”.)
