TÓM TẮT
Hướng tiếp cận – Đối với trẻ sơ sinh sốt, hướng xử trí được xác định dựa trên tuổi, tình trạng lâm sàng và kết quả của các xét nghiệm cận lâm sàng ban đầu (đối với trẻ từ 22 đến 28 ngày tuổi được đánh giá theo từng bước). Bệnh nhân nhập viện cần được chăm sóc tại các đơn vị có điều dưỡng và nhân viên hỗ trợ có kinh nghiệm trong chăm sóc trẻ sơ sinh.
Trẻ có biểu hiện bệnh nặng – Trẻ sơ sinh sốt có biểu hiện bệnh nặng cần được điều trị sốc nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn huyết (sơ đồ 1) tại đơn vị hồi sức tích cực. (Xem thêm “Trẻ em nhiễm khuẩn huyết trong điều kiện đầy đủ nguồn lực: Nhận biết nhanh và hồi sức ban đầu (giờ đầu tiên)”, phần ‘Phác đồ điều trị kinh nghiệm’ và “Nhiễm khuẩn huyết ở trẻ sơ sinh: Quản lý, phòng ngừa và kết cục”, phần ‘Nhập viện từ cộng đồng’.)
Trẻ có biểu hiện ổn định – Việc xử trí trẻ sơ sinh có tình trạng lâm sàng ổn định thay đổi tùy theo độ tuổi:
- Trẻ sơ sinh ≤ 21 ngày tuổi – Đối với trẻ sơ sinh ≤ 21 ngày tuổi sốt nhưng biểu hiện ổn định, chúng tôi khuyến cáo điều trị kháng sinh đường toàn thân theo kinh nghiệm (bảng 2 và sơ đồ 2) (Khuyến cáo 1B). Những bệnh nhân này bắt buộc phải nhập viện. (Xem thêm ‘Trẻ sơ sinh từ 7 đến 21 ngày tuổi’ ở dưới.)
- Trẻ sơ sinh từ 22 đến 28 ngày tuổi
- Đối với trẻ sơ sinh từ 22 đến 28 ngày tuổi sốt, biểu hiện ổn định nhưng có dấu ấn viêm bất thường, chúng tôi đề nghị điều trị kháng sinh đường toàn thân theo kinh nghiệm và nhập viện trong thời gian chờ kết quả nuôi cấy (Khuyến cáo 2C).
- Tuy nhiên, đối với những bệnh nhân có dấu ấn viêm trong máu bình thường, kết quả xét nghiệm nước tiểu ban đầu và xét nghiệm dịch não tủy (DNT) (nếu có) bình thường, có thể cân nhắc các hướng tiếp cận thay thế theo hướng dẫn của chuyên gia, bao gồm cả điều trị ngoại trú (sơ đồ 4). (Xem thêm ‘Trẻ sơ sinh từ 22 đến 28 ngày tuổi’ ở dưới.)
Lưu ý, việc điều trị ngoại trú chỉ được thực hiện khi cha mẹ/người chăm sóc chính và bác sĩ lâm sàng thống nhất rằng:
- Gia đình có điện thoại liên lạc tin cậy và phương tiện vận chuyển để quay lại bệnh viện nếu kết quả nuôi cấy máu hoặc dịch não tủy dương tính.
- Người chăm sóc sẵn lòng và có khả năng theo dõi các dấu hiệu chuyển biến xấu của trẻ.
- Đảm bảo việc tái khám và tiêm liều ceftriaxone bắp thứ hai trong vòng 24 giờ sau liều đầu tiên.
Đối với bệnh nhân được tiêm ceftriaxone bắp và cho về nhà, một lưu ý khác là ceftriaxone đơn trị liệu không đủ để bao phủ các tác nhân gây bệnh như L. monocytogenes hoặc các loài Enterococcus.
Các lưu ý bổ sung:
- Nhiễm khuẩn khu trú (viêm phổi, nhiễm trùng da, vú, xương hoặc khớp) – Trẻ sơ sinh sốt có nhiễm trùng khu trú cần được điều trị kháng sinh đường toàn thân theo kinh nghiệm với phổ kháng khuẩn rộng, phù hợp với vị trí nhiễm trùng cụ thể và được chỉ định nhập viện. Đối với những bác sĩ không quen thuộc với việc điều trị nhiễm trùng sơ sinh, khuyến khích hội chẩn với chuyên gia truyền nhiễm nhi khoa. (Xem thêm ‘Nhiễm trùng khu trú’ ở dưới.)
- Nhiễm virus – Trẻ sơ sinh từ 7 đến 28 ngày tuổi được chẩn đoán nhiễm các loại virus khác vẫn có nguy cơ cao nhiễm khuẩn xâm lấn (IBI) và cần được điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm như thể không có tình trạng nhiễm virus. (Xem thêm ‘Các nhiễm virus khác’ ở dưới.)
Ngoài ra, trẻ sơ sinh sốt nhiễm các loại virus sau đây cần được điều trị bằng thuốc kháng virus:
- Virus Herpes simplex (HSV) – Trẻ sơ sinh sốt nghi ngờ nhiễm HSV cần được điều trị acyclovir theo kinh nghiệm; những bệnh nhân nghi ngờ tổn thương mắt cần hội chẩn chuyên khoa mắt (bảng 5). (Xem thêm “Nhiễm virus Herpes simplex (HSV) ở trẻ sơ sinh: Quản lý và phòng ngừa”.)
- Cúm – Trẻ sơ sinh mắc cúm cần điều trị kháng virus (bảng 6), nội dung này được thảo luận chi tiết trong phần riêng. (Xem thêm “Cúm mùa ở trẻ em: Quản lý”.)
