Tổng quan về bệnh lý màng ngoài tim

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Phân loại

  • Các hội chứng màng ngoài tim được phân loại dựa trên đặc điểm lâm sàng, diễn tiến thời gian và nguyên nhân (bảng 1 và bảng 2).

Viêm màng ngoài tim cấp và tái phát – Viêm màng ngoài tim cấp là tình trạng bệnh kéo dài dưới bốn đến sáu tuần với ít nhất hai trong số bốn tiêu chuẩn chẩn đoán (bảng 3). Mặc dù đa số bệnh nhân viêm màng ngoài tim cấp vô căn hoặc do virus có tiên lượng xa tốt, một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân diễn tiến thành viêm màng ngoài tim tái phát, kéo dài (incessant) hoặc mạn tính, đồng thời có nguy cơ phát triển thành viêm màng ngoài tim co thắt. (Xem ‘Viêm màng ngoài tim cấp’ phía trên).

Chiến lược quản lý viêm màng ngoài tim cấp hoặc tái phát bao gồm các liệu pháp hướng vào quá trình bệnh lý hoặc nguyên nhân (nếu đã xác định rõ) (lưu đồ 1). Đa số bệnh nhân viêm màng ngoài tim cấp hoặc tái phát được điều trị bằng các thuốc kháng viêm (bảng 5). (Xem ‘Quản lý viêm màng ngoài tim’ phía trên).

Tràn dịch màng ngoài tim

Các tình trạng cấp cứu

  • Các trường hợp sau đây đòi hỏi phải chẩn đoán và dẫn lưu dịch màng ngoài tim khẩn cấp (lưu đồ 2):
  • Chèn ép tim cấp (tình trạng dịch màng ngoài tim tích tụ dưới áp lực cao làm cản trở quá trình đổ đầy thất của tim) biểu hiện qua các triệu chứng như mệt mỏi, khó thở, ngất và các dấu hiệu như nhịp tim nhanh xoang, áp lực tĩnh mạch cảnh tăng, mạch nghịch đảo và tụt huyết áp. Lượng dịch tràn dịch màng ngoài tim thường ở mức trung bình hoặc nhiều, nhưng có thể tương đối ít nếu dịch tích tụ diễn ra rất nhanh (hình 1). (Xem “Chèn ép tim cấp”).
  • Viêm màng ngoài tim mủ (được định nghĩa là tình trạng nhiễm trùng với dịch màng ngoài tim có mủ đại thể hoặc vi thể) thường biểu hiện bằng sốt cao và nhịp tim nhanh, kèm theo hoặc không kèm theo đau ngực, thường xảy ra trên nền các bệnh cảnh thuận lợi sẵn có. Bệnh lý này do nhiễm vi khuẩn (bao gồm cả vi khuẩn lao) hoặc nấm, được điều trị bằng cách dẫn lưu dịch màng ngoài tim khẩn cấp kết hợp liệu pháp kháng sinh/kháng nấm (Xem “Viêm màng ngoài tim mủ”).

Các tình trạng không cấp cứu – Những bệnh nhân không cần dẫn lưu dịch màng ngoài tim tức thì sẽ được theo dõi sát; một số trường hợp có thể được chỉ định chọc hút dịch màng ngoài tim phục vụ cho mục đích chẩn đoán (lưu đồ 2). (Xem “Tràn dịch màng ngoài tim: Tiếp cận chẩn đoán”, mục ‘Phân tích dịch màng ngoài tim và sinh thiết’).

Dẫn lưu màng ngoài tim – Khi có chỉ định dẫn lưu dịch màng ngoài tim, thủ thuật này thường được thực hiện bằng phương pháp dẫn lưu qua da, trừ khi vị trí dịch không thể tiếp cận được hoặc xuất hiện ổ chảy máu tim hoặc động mạch chủ nguy hiểm đòi hỏi phải xử trí ngoại khoa phẫu thuật (lưu đồ 2)1.

Tái tích tụ dịch – Đối với những bệnh nhân được đánh giá có nguy cơ cao tràn dịch màng ngoài tim tái phát (bao gồm người bệnh tràn dịch màng ngoài tim do ác tính hoặc viêm màng ngoài tim mủ), chiến lược xử trí ban đầu bằng cách dẫn lưu dịch màng ngoài tim có thể kết hợp hoặc tiếp nối bằng một hay nhiều biện pháp nhằm phòng ngừa hoặc điều trị tràn dịch màng ngoài tim tái phát, như đã thảo luận chi tiết ở các phần riêng biệt. (Xem “Tràn dịch màng ngoài tim: Tiếp cận quản lý” và “Bệnh lý màng ngoài tim liên quan đến ung thư: Quản lý”, mục ‘Phòng ngừa và điều trị tràn dịch màng ngoài tim ác tính tái phát’).

Viêm màng ngoài tim co thắt – Viêm màng ngoài tim co thắt là một hội chứng lâm sàng trong đó màng ngoài tim dày lên và mất tính đàn hồi, gây cản trở quá trình đổ đầy thất của tim. Bệnh nhân viêm màng ngoài tim co thắt thường đến khám sau nhiều tháng hoặc nhiều năm kể từ đợt tổn thương màng ngoài tim khởi phát. (Xem “Viêm màng ngoài tim co thắt: Đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân”).

Chẩn đoán thường được xác định bằng siêu âm tim kết hợp với các cận lâm sàng tim mạch bổ sung khi cần thiết (lưu đồ 4). (Xem “Viêm màng ngoài tim co thắt: Đánh giá chẩn đoán”).

Một tỷ lệ nhỏ các trường hợp viêm màng ngoài tim co thắt có tính chất thoáng qua, tự khỏi hoặc hồi phục trong vòng từ hai đến sáu tháng khi điều trị nội khoa hoặc tự phát (bảng 5 và lưu đồ 3). Phần lớn viêm màng ngoài tim co thắt có diễn tiến mạn tính, trong đó phẫu thuật cắt bỏ màng ngoài tim là phương pháp điều trị triệt để duy nhất. (Xem “Viêm màng ngoài tim co thắt: Quản lý và tiên lượng”).

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here