TÓM TẮT
-
Nguy cơ nhiễm trùng sau ghép tế bào tạo máu (HCT)
Việc truyền tế bào tạo máu nhằm khôi phục chức năng tủy xương cho người bệnh đã bị hủy hoại tủy bằng hóa trị và/hoặc xạ trị đã trở thành liệu pháp chuẩn cho nhiều bệnh lý ác tính và lành tính. Người bệnh có thể mắc các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn, nấm, virus và/hoặc ký sinh trùng sau ghép tế bào tạo máu (gọi tắt là HCT) (hình 1). Tình trạng nhiễm trùng ở những đối tượng này đi kèm với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cao. Do đó, mục tiêu cốt lõi là phòng ngừa nhiễm trùng, bao gồm việc đánh giá nguy cơ, lựa chọn người hiến tạng cẩn thận, áp dụng các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn, cũng như sử dụng liệu pháp kháng sinh dự phòng và điều trị sớm (xem mục ‘Giới thiệu’ ở dưới).
-
Tầm quan trọng của việc đánh giá trước ghép
Quy trình đánh giá trước ghép được thiết kế nhằm ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng hậu phẫu bằng cách loại trừ những người hiến không phù hợp, đồng thời xác định các chính sách kiểm soát nhiễm khuẩn cụ thể cùng phác đồ kháng sinh dự phòng và điều trị cần thiết sau khi ghép. Cả người hiến và người nhận đều phải được khai thác tiền sử y khoa toàn diện về việc phơi nhiễm các bệnh truyền nhiễm trong quá khứ hoặc gần đây, đặc biệt khi cân nhắc thực hiện ghép tế bào tạo máu đồng loại (xem mục ‘Đánh giá trước ghép’ ở dưới).
-
Các xét nghiệm sàng lọc cận lâm sàng
Xét nghiệm cận lâm sàng tìm bằng chứng phơi nhiễm mầm bệnh trong quá khứ được thực hiện nhằm phát hiện tình trạng nhiễm trùng không có triệu chứng ở người hiến hoặc ứng viên ghép tế bào tạo máu. Một số xét nghiệm được khuyến cáo cho tất cả người bệnh, trong khi các xét nghiệm khác chỉ phù hợp cho những cá thể được chọn lọc có các yếu tố nguy cơ dịch tễ học (bảng 1) (xem mục ‘Xét nghiệm đặc hiệu mầm bệnh’ ở dưới).
-
Điều trị các ổ nhiễm trùng đang hoạt động trước khi ghép tế bào tạo máu
Các nhiễm trùng đang hoạt động ở ứng viên chuẩn bị ghép cần được triệt tiêu hoặc kiểm soát ổn định trước khi tiến hành ghép bất cứ khi nào có thể. Ngay cả các nhiễm trùng không triệu chứng cũng có thể tiến triển thành bệnh lý xâm lấn hoặc sốc nhiễm trùng nặng sau khi ghép. Các quyết định về thời điểm ghép tế bào tạo máu sau khi khởi trị nhiễm trùng cho người hiến hoặc người nhận phải được cân nhắc kỹ lưỡng trên từng trường hợp cụ thể (xem mục ‘Quản lý nhiễm trùng trước khi ghép tế bào tạo máu’ ở dưới).
-
Dự phòng thứ phát
Đối với các ứng viên ghép tế bào tạo máu từng mắc các bệnh nhiễm trùng có khả năng tái phát cao sau khi ghép, việc áp dụng liệu pháp dự phòng thứ phát trong giai đoạn nguy cơ cao là hoàn toàn hợp lý. Các ví dụ điển hình bao gồm nhiễm nấm Aspergillus xâm lấn và nhiễm nấm Candida lan tỏa (nhiễm nấm Candida gan lách) (xem mục ‘Nhiễm nấm xâm lấn’ ở dưới).
