Hội chứng tim thận: Định nghĩa, tỷ lệ mắc, chẩn đoán và sinh lý bệnh

TÓM TẮT

Định nghĩa và phân loại

  • Rối loạn chức năng tim hoặc thận, dù là cấp tính hay mạn tính, đều có thể gây ra rối loạn chức năng cấp tính hoặc mạn tính ở cơ quan còn lại. Ngoài ra, chức năng cả tim và thận đều có thể suy giảm do các rối loạn hệ thống cấp tính hoặc mạn tính. Thuật ngữ “hội chứng tim thận” (CRS) được dùng để mô tả các tương tác này. Suy tim (HF) cấp tính dẫn đến tình trạng suy giảm chức năng thận, trong khi suy tim mạn tính gây ra bệnh thận mạn tiến triển. (Xem ‘Định nghĩa và phân loại’ ở dưới.)

Tỷ lệ lưu hành

  • Tỷ lệ suy giảm chức năng thận mức độ trung bình đến nặng (được định nghĩa là mức lọc cầu thận [GFR] dưới 60 mL/min/1,73 m2) chiếm khoảng 30% đến 60% ở bệnh nhân suy tim. Bên cạnh những quan sát cơ bản này, bệnh nhân đang điều trị suy tim cấp hoặc mạn tính thường xuyên có tình trạng tăng creatinine huyết thanh. (Xem ‘Tỷ lệ lưu hành’ ở dưới.)

Chẩn đoán

  • Ở những bệnh nhân suy tim có nồng độ creatinine huyết thanh tăng cao và/hoặc giảm mức lọc cầu thận ước tính (eGFR), việc phân biệt giữa bệnh thận nền và suy giảm chức năng thận do hội chứng tim thận là rất quan trọng. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Sinh lý bệnh

  • Nhiều yếu tố khác nhau có thể góp phần làm giảm GFR ở bệnh nhân suy tim. Các cơ chế chính đã được nghiên cứu bao gồm: sự thích nghi thần kinh – dịch thể, giảm tưới máu thận, tăng áp lực tĩnh mạch thận và rối loạn chức năng thất phải. (Xem ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here