TÓM TẮT
Các loại hình giải phẫu của VSD
- Thông liên thất (VSD) được phân thành bốn loại về mặt giải phẫu: loại 1 liên quan đến vách ngăn phễu, loại 2 liên quan đến vách ngăn màng (loại phổ biến nhất), loại 3 liên quan đến vách ngăn vào và loại 4 liên quan đến vách ngăn cơ (hình 1 và hình 2). (Xem ‘Các loại hình giải phẫu’ ở dưới.)
Các hình thái lâm sàng của VSD
- Các hình thái lâm sàng của VSD ở người trưởng thành bao gồm các loại hình huyết động và lâm sàng sau đây (xem ‘Các hình thái lâm sàng’ ở dưới):
- VSD hạn chế kích thước nhỏ với luồng shunt trái-phải ít (tỷ lệ dòng chảy phổi/hệ thống [Qp:Qs] < 1,5:1); loại này thường không kèm theo triệu chứng và không có tăng áp phổi (PH).
- VSD hạn chế mức độ trung bình với luồng shunt trung bình (Qp:Qs ≥ 1,5:1 và < 2:1) chưa được đóng lỗ thông thường gây tăng áp phổi mức độ nhẹ đến trung bình, và/hoặc quá tải thể tích tim trái, có thể dẫn đến các triệu chứng lâm sàng.
- VSD không hạn chế kích thước lớn chưa được can thiệp gây tăng áp động mạch phổi tiến triển. Luồng shunt trái-phải giảm dần rồi đảo ngược; luồng shunt phải-trái hệ quả gây thiếu oxy máu và tím tái (hội chứng Eisenmenger). (Xem “Thông liên thất (VSD) đơn thuần ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ: Giải phẫu, đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”, mục ‘Thông liên thất kích thước lớn’ và “Tăng áp phổi kèm bệnh tim bẩm sinh: Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”.)
- Một số người trưởng thành đã được đóng VSD trước đó có thể vẫn còn lỗ thông tồn dư. (Xem “Xử trí và tiên lượng thông liên thất bẩm sinh ở người trưởng thành”, mục ‘VSD tồn dư’.)
Các bệnh lý tim mạch đi kèm
- Một số ít người trưởng thành mắc VSD có kèm theo các tổn thương bẩm sinh hoặc mắc phải bao gồm hở van động mạch chủ, hở van ba lá, thất phải hai buồng, hoặc giãn/vỡ xoang Valsalva. Những bệnh nhân này cần được theo dõi sát sao. (Xem ‘Các bệnh lý tim mạch đi kèm’ ở dưới.)
Khi nào cần nghi ngờ VSD
- Cần nghi ngờ VSD ở những bệnh nhân có tiếng thổi đặc trưng. Thông thường, bệnh nhân có VSD kích thước nhỏ không kèm triệu chứng, trong khi bệnh nhân có VSD kích thước trung bình hoặc lớn sẽ xuất hiện các triệu chứng như khó thở và mệt mỏi. (Xem ‘Khi nào cần nghi ngờ VSD’ ở dưới.)
Đánh giá chẩn đoán Chẩn đoán hình ảnh ban đầu
- VSD thường được xác định và đánh giá các ảnh hưởng huyết động thông qua siêu âm tim qua thành ngực (TTE). TTE cũng là xét nghiệm then chốt để xác định và đánh giá các bệnh lý tim mạch đi kèm như hở van động mạch chủ, hở van ba lá và thất phải hai buồng. (Xem ‘Cách chẩn đoán và đánh giá VSD’ ở dưới.)
Vai trò của CMR hoặc CT tim
- Cộng hưởng từ tim (CMR) được khuyến cáo để đánh giá giải phẫu VSD, ảnh hưởng đến kích thước và chức năng các buồng tim, và trong một số trường hợp có thể dùng để đánh giá Qp:Qs. Nếu không có sẵn CMR hoặc có chống chỉ định, chụp cắt lớp vi tính (CT) tim là một lựa chọn không xâm lấn thay thế. (Xem các phần ‘Cách chẩn đoán và đánh giá VSD’, ‘Cộng hưởng từ tim’ và ‘Chụp cắt lớp vi tính tim’ ở dưới.)
Vai trò của thông tim
- Nếu kết quả chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn về VSD không rõ ràng hoặc có bằng chứng tăng áp phổi mức độ trung bình đến nặng, chỉ định thông tim để đánh giá huyết động, bao gồm cả đánh giá tình trạng tăng áp phổi. (Xem ‘Cách chẩn đoán và đánh giá VSD’ và ‘Thông tim’ ở dưới.)
