TÓM TẮT
Mối liên quan giữa ung thư và huyết khối
- Đã có bằng chứng rõ ràng về việc huyết khối xảy ra phổ biến ở bệnh nhân ung thư, bao gồm thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) và huyết khối động mạch. Mức độ nguy cơ và các chiến lược phòng ngừa được thảo luận trong các phần riêng biệt. (Xem ‘Mối liên quan giữa ung thư và huyết khối’ ở dưới và “Nguy cơ và phòng ngừa thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở người trưởng thành mắc ung thư”, phần ‘Phòng ngừa tiên phát’.)
- Các dấu ấn sinh học
Các dấu ấn sinh học duy nhất được thẩm định rộng rãi và ứng dụng phổ biến trong chăm sóc lâm sàng là các thông số công thức máu toàn bộ (CBC) thuộc mô hình dự báo nguy cơ VTE ở bệnh nhân ung thư của Khorana; các thông số này bao gồm: số lượng tiểu cầu ≥350.000/microL, hemoglobin <10 g/dL (hoặc có sử dụng các tác nhân kích thích tạo hồng cầu [ESA]), và số lượng bạch cầu (WBC) >11.000/microL (bảng 1). (Xem ‘Các dấu ấn sinh học’ ở dưới.) - Cơ chế
Tế bào ung thư có thể biểu hiện hoặc tiết ra các protein tiền đông giúp kích hoạt trực tiếp dòng thác đông máu trong tuần hoàn, đặc biệt là yếu tố mô (TF) trên tế bào hoặc trên các vi hạt lưu thông. Sự gia tăng của các protein khác (D-dimer, podoplanin, chất ức chế hoạt hóa plasminogen 1 [PAI-1], protein disulfide isomerase [PDI]) và các tế bào (tiểu cầu, bạch cầu, bẫy ngoại bào của bạch cầu trung tính [NETs]) có thể là các chỉ số thay thế cho việc tăng nguy cơ VTE hoặc góp phần làm tăng nguy cơ này. Chúng tôi xem đông máu nội mạch lan tỏa (DIC) là một cơ chế riêng biệt. (Xem ‘Cơ chế phân tử’ ở dưới và “Đánh giá và xử trí đông máu nội mạch lan tỏa (DIC) ở người trưởng thành”, phần ‘DIC mạn tính’.) - Các yếu tố góp phần
Các yếu tố góp phần vào tình trạng tăng đông trong ung thư bao gồm (bảng 2):- Loại, giai đoạn và thời điểm chẩn đoán ung thư
Loại ung thư là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với huyết khối liên quan đến ung thư. Nguy cơ VTE cao nhất được ghi nhận ở ung thư tụy, dạ dày, não, đại trực tràng, phổi và buồng trứng. Giai đoạn, độ mô học và thời điểm tính từ lúc chẩn đoán cũng ảnh hưởng đến nguy cơ VTE. Nguy cơ cao nhất là trong khoảng từ ba đến bốn tháng trước khi chẩn đoán và có thể trở về mức nền sau một năm kể từ khi chẩn đoán. (Xem ‘Các yếu tố liên quan đến ung thư’ ở dưới.) - Tuổi bệnh nhân và các bệnh đồng mắc
Nguy cơ VTE tăng dần theo tuổi bệnh nhân và các yếu tố nguy cơ khác không liên quan trực tiếp đến ung thư (chỉ số khối cơ thể [BMI] cao, tăng đông di truyền, tiền sử VTE, COVID-19). (Xem ‘Các yếu tố liên quan đến bệnh nhân’ ở dưới.) - Điều trị
Các tác nhân hóa trị có nguy cơ VTE cao nhất bao gồm cisplatin và asparaginase. Các liệu pháp khác làm tăng nguy cơ VTE bao gồm tamoxifen, raloxifene, các chất ức chế kinase phụ thuộc cyclin, các tác nhân kháng tăng sinh mạch, các thuốc điều hòa miễn dịch (thalidomide và các chất tương tự), liệu pháp miễn dịch và các tác nhân kích thích tạo hồng cầu. Phẫu thuật, nằm viện, sử dụng catheter và cổng truyền (port) lưu cũng làm tăng nguy cơ VTE. (Xem ‘Các yếu tố liên quan đến điều trị’ ở dưới.)
- Loại, giai đoạn và thời điểm chẩn đoán ung thư
Việc giảm nguy cơ ở những bệnh nhân đang điều trị các liệu pháp này được thảo luận riêng. (Xem “Thiếu hụt antithrombin”, phần ‘Bệnh nhân đang sử dụng asparaginase’, “Độc tính tim mạch của các tác nhân kháng tăng sinh mạch nhắm trúng đích phân tử”, “Đa u tủy xương: Phòng ngừa thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch” và “Nguy cơ và phòng ngừa thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở người trưởng thành mắc ung thư”, phần ‘Phòng ngừa tiên phát’.)
