Tổng quan về tổn thương hệ tiết niệu sinh dục dưới do chấn thương

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Tổn thương đường tiết niệu – sinh dục dưới

  • Tổn thương đường tiết niệu – sinh dục (GU) nhìn chung ít gặp. Tổn thương đường tiết niệu – sinh dục dưới do cơ chế chấn thương kín hoặc đâm xuyên có thể liên quan đến bàng quang, niệu đạo hoặc cơ quan sinh dục ngoài. (Xem ‘Giới thiệu ở dưới, ‘Giải phẫu và các tổn thương liên quan ở dưới và ‘Phân độ tổn thương ở dưới.)
  • Tổn thương bàng quang được phân loại rộng rãi thành tổn thương ngoài phúc mạc (tức là tổn thương giới hạn trong khoang ngoài phúc mạc) hoặc tổn thương trong phúc mạc (tức là tổn thương thông với phúc mạc).
  • Tổn thương niệu đạo được phân loại theo giải phẫu thành tổn thương niệu đạo sau hoặc tổn thương niệu đạo trước (ở nam giới).
  • Nguyên nhân gây tổn thương cơ quan sinh dục ngoài ở nam giới rất đa dạng và có thể bao gồm cả tổn thương niệu đạo trước. Tổn thương kín khu trú ở cơ quan sinh dục ngoài của nữ giới thường hiếm gặp và có thể là dấu hiệu của xâm hại tình dục.

Cơ chế chấn thương

Cơ chế chấn thương hoặc các dấu hiệu chấn thương rõ rệt ở vùng bụng dưới, tầng sinh môn hoặc cơ quan sinh dục ngoài có thể gợi ý tổn thương đường tiết niệu – sinh dục dưới. Gãy xương chậu có mối liên quan chặt chẽ với các tổn thương đường tiết niệu – sinh dục dưới, đặc biệt là tổn thương bàng quang và niệu đạo sau. Các đặc điểm lâm sàng khác làm tăng nghi ngờ tổn thương đường tiết niệu – sinh dục dưới bao gồm ấn đau vùng hạ vị, đái máu, có máu ở lỗ niệu đạo và tiểu khó, mặc dù các triệu chứng này không đặc hiệu. (Xem ‘Cơ chế chấn thương ở dưới và ‘Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán ở dưới.)

Chẩn đoán

Chẩn đoán tổn thương bàng quang và niệu đạo đòi hỏi phải thực hiện chẩn đoán hình ảnh ngược dòng (chụp bàng quang, chụp niệu đạo). Khi cần thực hiện cả chụp cắt lớp vi tính (CT) bụng/chậu và chụp bàng quang cản quang qua CT để đánh giá chấn thương vùng chậu, thì chụp bàng quang cản quang qua CT nên được thực hiện sau thì nhu mô vỏ – tủy của phim CT (để đánh giá khả năng tổn thương thận) hoặc sau thì động mạch (để đánh giá các tổn thương khác). Việc trì hoãn sẽ ngăn chặn tình trạng thuốc cản quang thoát ra ngoài bàng quang làm che khuất các tổn thương mạch máu có thể cần can thiệp nút mạch khẩn cấp. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán ở dưới.)

Dẫn lưu nước tiểu

Dẫn lưu nước tiểu là một khía cạnh thiết yếu trong xử trí cấp cứu khi nghi ngờ tổn thương đường tiết niệu – sinh dục dưới. Không khuyến khích đặt ống thông tiểu mù trước khi thực hiện chẩn đoán hình ảnh đường tiết niệu – sinh dục dưới. Nếu chưa có chẩn đoán hình ảnh, việc đặt ống thông niệu đạo chỉ nên thực hiện tối đa một lần thay vì cố gắng nhiều lần không thành công. Cần lưu ý phối hợp với các bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình về việc đặt ống thông tiểu trên xương mu ở những bệnh nhân có khả năng cần phẫu thuật điều trị gãy xương chậu. Khuyến cáo nên thực hiện chẩn đoán hình ảnh lặp lại trước khi rút ống thông để đảm bảo bàng quang hoặc niệu đạo đã lành, bất kể tổn thương được điều trị bảo tồn hay cần phẫu thuật. (Xem ‘Đánh giá chấn thương ở dưới, ‘Phối hợp chăm sóc ở dưới và ‘Xử trí ở dưới.)

Xử trí

Việc xử trí các tổn thương đường tiết niệu – sinh dục dưới dựa trên phân loại tổn thương theo giải phẫu, tùy thuộc vào vị trí và tính chất của các tổn thương phối hợp. (Xem ‘Xử trí ở dưới và ‘Giải phẫu và các tổn thương liên quan ở dưới.)

Tổn thương bàng quang

Các tổn thương bàng quang ngoài phúc mạc chủ yếu được xử trí bảo tồn, trong khi các tổn thương bàng quang trong phúc mạc cần được phẫu thuật phục hồi (phác đồ 1). Các tổn thương phức tạp, bao gồm tổn thương cổ bàng quang, hoặc các tổn thương liên quan đến gãy xương chậu, tổn thương trực tràng hoặc âm đạo, đòi hỏi phải can thiệp phẫu thuật.

Tổn thương niệu đạo

Xử trí cấp tính hầu hết các tổn thương niệu đạo bao gồm dẫn lưu bàng quang, có thể kèm theo hoặc không kèm theo phẫu thuật phục hồi trì hoãn (phác đồ 2). Đối với bệnh nhân tổn thương niệu đạo sau, đặt ống thông tiểu trên xương mu hoặc nắn chỉnh niệu đạo là một lựa chọn để xử trí cấp tính. Việc phẫu thuật phục hồi triệt để vào thời điểm sau đó thường là cần thiết.

Tổn thương mô mềm

Tổn thương mô mềm mà không làm thủng bao trắng của thể hang hoặc mạc Dartos của bìu thường có thể được xử trí bảo tồn; nếu có thủng, cần phải thăm dò và khâu phục hồi. Nếu không thể xác định rõ tình trạng thủng qua thăm khám lâm sàng, siêu âm dương vật hoặc siêu âm bìu có thể hữu ích.

Tử vong

Tỷ lệ tử vong liên quan đến tổn thương đường tiết niệu – sinh dục dưới chủ yếu liên quan đến tình trạng chảy máu từ các tổn thương gãy xương chậu phối hợp. (Xem ‘Tử vong ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here