TÓM TẮT
Tỷ lệ mắc – Phụ nữ mang thai hoặc vừa sinh con có tỷ lệ đột quỵ cao hơn (tỷ lệ 30 trên 100.000 ca mang thai) so với những người không mang thai. Tam cá nguyệt thứ ba và giai đoạn hậu sản là thời điểm ghi nhận sự gia tăng đáng kể về nguy cơ tương đối và tăng nhẹ về nguy cơ tuyệt đối của đột quỵ. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Đánh giá – Tất cả bệnh nhân nghi ngờ đột quỵ cấp cần được đánh giá khẩn cấp. Chẩn đoán hình ảnh não là thành phần thiết yếu trong quá trình đánh giá. Chụp cắt lớp vi tính (CT) sọ não vừa cung cấp nhiều thông tin, vừa dễ dàng thực hiện. Tuy nhiên, chụp cộng hưởng từ (MRI) não có độ nhạy cao hơn CT trong việc phát hiện nhồi máu sớm, nhồi máu diện nhỏ, huyết khối tĩnh mạch não và các tổn thương cấu trúc (ví dụ: dị dạng cavernoma).
Nguyên nhân – Các nguyên nhân phổ biến nhất gây đột quỵ xuất huyết trong thai kỳ là tiền sản giật/sản giật, dị dạng động tĩnh mạch và phình mạch não. Đối với đột quỵ nhồi máu não, các nguyên nhân thường gặp nhất là huyết khối tĩnh mạch não, tiền sản giật/sản giật và thuyên tắc do tim. Các nguyên nhân chính gây đột quỵ và các biến cố giống đột quỵ trong thai kỳ được liệt kê trong bảng (bảng 1). (Xem ‘Các phân thể đột quỵ’ ở dưới.)
Đột quỵ nhồi máu não cấp – Đối với những bệnh nhân đủ điều kiện, có thể cân nhắc sử dụng alteplase truyền tĩnh mạch trong thai kỳ khi lợi ích dự kiến vượt trội hơn so với nguy cơ gia tăng xuất huyết tử cung. Bệnh nhân cần được điều trị càng sớm càng tốt trong cửa sổ thời gian 3 hoặc 4,5 giờ kể từ thời điểm cuối cùng ghi nhận bệnh nhân còn bình thường. Lấy huyết khối cơ học được chỉ định cho một số bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp do tắc động mạch lớn trong tuần hoàn trước đoạn gần, có thể thực hiện can thiệp trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm cuối cùng ghi nhận bình thường.
Huyết khối tĩnh mạch não – Điều trị huyết khối tĩnh mạch não có triệu chứng, dù có hay không có nhồi máu tĩnh mạch xuất huyết, là liệu pháp kháng đông bằng heparin truyền tĩnh mạch hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp tiêm dưới da.
Xuất huyết nội sọ – Xuất huyết dưới nhện và/hoặc xuất huyết nội não do vỡ phình mạch hoặc chảy máu từ dị dạng mạch máu có thể được xử trí bằng phẫu thuật (ví dụ: kẹp clip) hoặc can thiệp nội mạch (ví dụ: nút mạch) tổn thương nguyên nhân. (Xem ‘Xuất huyết nội sọ’ ở dưới.)
Tiền sản giật/Sản giật/Hội chứng HELLP – Tiền sản giật/sản giật và hội chứng HELLP (tan máu, tăng men gan và giảm tiểu cầu) là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra cả nhồi máu não và đột quỵ xuất huyết trong thai kỳ. Mục tiêu điều trị là ổn định tình trạng người mẹ, dự phòng co giật tái phát, kiểm soát tăng huyết áp nặng để giảm hoặc ngăn ngừa phù não và xuất huyết, đồng thời tiến hành cho sinh sớm. (Xem ‘Tiền sản giật, sản giật và HELLP’ ở dưới.)
RCVS/Bệnh mạch máu hậu sản – Bệnh mạch máu hậu sản là một loại trong nhóm hội chứng co thắt mạch não có hồi phục (RCVS), đặc trưng bởi cơn đau đầu kiểu sét đánh và tình trạng co thắt mạch não khu trú, lan tỏa và có thể hồi phục. Một số bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng thần kinh (ví dụ: rối loạn thị giác, liệt nửa người, nói khó, mất ngôn ngữ, thất điều, co giật và bệnh não). Trong các trường hợp nặng, có thể dẫn đến xuất huyết trong nhu mô não, xuất huyết dưới nhện hoặc đột quỵ nhồi máu não. Hiện chưa có can thiệp điều trị nào được chứng minh là hiệu quả; hội chứng này thường tự giới hạn. (Xem ‘RCVS/bệnh mạch máu hậu sản’ ở dưới.)
Các nguyên nhân khác – Một số nguyên nhân khác gây đột quỵ và các biến cố mạch máu não trong thai kỳ và hậu sản đã được xem xét ở trên:
- Xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (TTP) và hội chứng urê huyết tán (HUS) (xem ‘TTP và HUS’ ở dưới)
- Bệnh cơ tim chu sinh (xem ‘Bệnh cơ tim chu sinh’ ở dưới)
- Thuyên tắc ối (xem ‘Thuyên tắc ối’ ở dưới)
- Bệnh lý tế bào nuôi (xem ‘Bệnh lý tế bào nuôi’ ở dưới)
Nguy cơ tái phát – Nguy cơ tái phát đột quỵ trong những lần mang thai tiếp theo có lẽ là thấp, tuy nhiên dữ liệu hiện còn hạn chế. (Xem ‘Nguy cơ tái phát đột quỵ’ ở dưới.)
