Rút ống nội khí quản sau gây mê

TÓM TẮT

  • Chiến lược rút nội khí quản

    Đối với mỗi bệnh nhân được đặt nội khí quản để gây mê, cần xây dựng một chiến lược rút nội khí quản an toàn, bắt đầu từ việc đánh giá mức độ nguy cơ. Chiến lược này nên được lập ngay tại thời điểm đặt nội khí quản, vì nó có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn ống nội khí quản, đường đặt ống (qua đường miệng hay đường mũi) và việc trao đổi với bệnh nhân trước khi khởi mê. Kế hoạch có thể được điều chỉnh dựa trên những thay đổi xảy ra trong quá trình phẫu thuật (thuật toán 1). (Xem ‘Phân tầng nguy cơ rút nội khí quản’ ở dưới.)

  • Phân tầng nguy cơ

    Phân tầng nguy cơ rút nội khí quản cần bao gồm khả năng bệnh nhân không dung nạp được việc rút nội khí quản dẫn đến phải đặt lại, và khả năng đặt lại sẽ khó khăn nếu cần thiết (ví dụ: do các thách thức về giải phẫu, sinh lý hoặc bối cảnh lâm sàng) (thuật toán 3 và bảng 1). (Xem ‘Phân tầng nguy cơ rút nội khí quản’ ở dưới.)

    Rút nội khí quản nguy cơ thấp là những trường hợp mà cả nguy cơ không dung nạp rút nội khí quản và nguy cơ đặt lại khó khăn dự kiến đều thấp (thuật toán 2). (Xem ‘Các kỹ thuật rút nội khí quản nguy cơ thấp’ ở dưới.)

  • Rút nội khí quản khi tỉnh so với rút nội khí quản sâu

    Hầu hết người lớn được rút nội khí quản khi đang tỉnh (xem ‘Rút nội khí quản khi tỉnh’ ở dưới). Có thể thực hiện rút nội khí quản sâu đối với các trường hợp nguy cơ thấp để tránh tình trạng ho, rặn, co thắt thanh quản hoặc biến động huyết động, ở những bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ gây thông khí qua mặt nạ khó hoặc nguy cơ hít sặc. (Xem ‘Rút nội khí quản sâu’ ở dưới.)

  • Tối ưu hóa trước khi rút nội khí quản

    Những bệnh nhân có nguy cơ thất bại khi rút nội khí quản cao cần được đánh giá lại trước khi rút để tối ưu hóa tình trạng tim mạch, hô hấp, chuyển hóa và thần kinh – cơ; nên trì hoãn việc rút nội khí quản nếu việc này có thể giúp giảm nguy cơ thất bại (thuật toán 3). (Xem ‘Rút nội khí quản nguy cơ cao’ ở dưới.)

    Việc rút nội khí quản có thể gây ra các phản ứng sinh lý, bao gồm tăng huyết áp, nhịp tim nhanh, ho hoặc rặn, cũng như tăng áp lực nội sọ và áp lực nhãn cầu. Các chiến lược để tránh những tác động này bao gồm sử dụng lidocaine, thuốc opioid hoặc thuốc chẹn beta, và thực hiện rút nội khí quản sâu hoặc rút nội khí quản theo phương pháp “không chạm” (no-touch). (Xem ‘Giảm thiểu phản ứng sinh lý khi rút nội khí quản’ ở dưới.)

  • Sử dụng ống thông trao đổi đường thở (AEC)

    Quyết định sử dụng AEC nên dựa trên đánh giá nguy cơ đặt lại khó. Đối với bệnh nhân có nguy cơ rút nội khí quản cao do khả năng đặt lại khó, trong khi việc trì hoãn rút nội khí quản không mang lại thêm lợi ích nào, chúng ta sử dụng ống thông trao đổi đường thở (AEC). AEC được để lại tại chỗ với đầu ống nằm trong khí quản và có thể được dùng để dẫn đường khi đặt lại ống nội khí quản (ETT) qua AEC (hình 1). (Xem ‘Ống thông trao đổi đường thở’ ở dưới.)

  • Mở khí quản chương trình

    Thay vì rút nội khí quản, có thể chỉ định mở khí quản chương trình cho những bệnh nhân cần đặt nội khí quản kéo dài hoặc những bệnh nhân có nguy cơ tắc nghẽn đường thở dai dẳng. (Xem ‘Mở khí quản ngoại khoa chương trình’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here