TÓM TẮT
Tổng quan – Virus Epstein-Barr (EBV) là một loại herpesvirus phổ biến, lây truyền qua tiếp xúc gần giữa người dễ nhạy cảm và những người mang virus nhưng không có triệu chứng. EBV là tác nhân chính gây bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn (IM) và có liên quan đến sự phát triển của lymphoma tế bào B, lymphoma tế bào T, lymphoma Hodgkin và ung thư vòm họng. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Nhiễm trùng dưới lâm sàng – Hầu hết các trường hợp nhiễm EBV nguyên phát trên toàn thế giới diễn ra thầm lặng và không biểu hiện triệu chứng lâm sàng. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn – Bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn (IM) thường khởi phát với tình trạng mệt mỏi, đau đầu và sốt nhẹ trước khi xuất hiện các dấu hiệu đặc hiệu hơn của nhiễm trùng như viêm họng và sưng hạch cổ. Kết quả xét nghiệm máu ngoại vi thường cho thấy tình trạng tăng lympho bào, với sự hiện diện của các lympho bào không điển hình. (Xem thêm “Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn”.)
Nhiễm trùng nguyên phát ở trẻ nhũ nhi và trẻ em – Nhiễm EBV nguyên phát ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ rất phổ biến nhưng thường không có triệu chứng. Khi có triệu chứng, bệnh có thể biểu hiện đa dạng như viêm tai giữa, tiêu chảy, các rối loạn tiêu hóa, nhiễm trùng đường hô hấp trên, hoặc các dấu hiệu và triệu chứng tương đồng với bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn. (Xem ‘Nhiễm EBV nguyên phát ở trẻ nhũ nhi và trẻ em’ ở dưới.)
Nhiễm trùng bẩm sinh và chu sinh – Nhiễm EBV trong tử cung rất hiếm gặp do có dưới 5% phụ nữ mang thai nhạy cảm với virus này. Ngoài ra, chưa ghi nhận các bất thường bẩm sinh ở trẻ sinh ra từ những người mẹ nhiễm EBV nguyên phát trong thời kỳ mang thai. (Xem ‘Nhiễm trùng bẩm sinh và chu sinh’ ở dưới.)
Biến chứng – Nhiễm EBV có liên quan đến một số biến chứng cấp tính và trong một số cơ địa, có những tác động xuất hiện muộn hơn (xem “Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn”, phần ‘Biến chứng’ và phần ‘Biến chứng muộn’ ở dưới). Ví dụ:
- Bạch sản lông ở miệng được mô tả là các mảng trắng, gợn sóng, không đau, thường khu trú ở hai bên cạnh lưỡi ở bệnh nhân nhiễm HIV giai đoạn tiến triển. (Xem ‘Bạch sản lông ở miệng’ ở dưới.)
- Nhiễm EBV có liên quan đến nhiều rối loạn tăng sinh lympho. Hơn một chục đột biến gen đơn lẻ gây suy giảm miễn dịch nguyên phát có liên quan đến các bệnh lý nặng do EBV gây ra. (Xem ‘Rối loạn tăng sinh lympho’ ở dưới.)
- Một số bệnh lý ác tính, bao gồm lymphoma Burkitt, lymphoma Hodgkin và ung thư dạ dày có liên hệ với EBV. (Xem ‘Bệnh lý ác tính’ ở dưới.)
Chăm sóc hỗ trợ – Phương pháp điều trị chủ đạo cho bệnh nhân nhiễm EBV nguyên phát là điều trị hỗ trợ. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới.)
