TÓM TẮT
Tiến triển tự nhiên – Hở van động mạch chủ (AR) mạn tính thường diễn tiến chậm với giai đoạn bù không triệu chứng kéo dài. Một số bệnh nhân sẽ tiến triển nặng hơn dẫn đến hở van mức độ nặng kèm theo giãn thất trái (LV), rối loạn chức năng tâm thu thất trái và suy tim (bảng 1). (Xem ‘Diễn tiến tự nhiên’ ở dưới.)
Theo dõi – Bệnh nhân hở van động mạch chủ mạn tính cần được theo dõi các thay đổi về triệu chứng, mức độ hở van và chức năng tâm thu thất trái để đánh giá lại giai đoạn bệnh. Các giai đoạn lâm sàng của hở van động mạch chủ mạn tính được xác định dựa trên triệu chứng, đặc điểm giải phẫu van, mức độ hở và chức năng tâm thu thất trái (thường được định lượng bằng phân suất tống máu thất trái [LVEF] và mức độ giãn thất trái) (bảng 2). (Xem ‘Theo dõi’ ở dưới.)
Chỉ định phẫu thuật van động mạch chủ – Phẫu thuật van động mạch chủ (chủ yếu là thay van động mạch chủ) là phương pháp điều trị chính cho các trường hợp hở van mức độ nặng có triệu chứng và một số bệnh nhân hở van mức độ nặng không triệu chứng, cụ thể như sau (xem mục ‘Hướng tiếp cận điều trị’ và ‘Phẫu thuật van động mạch chủ’ ở dưới):
- Bệnh nhân có triệu chứng – Khuyến cáo phẫu thuật van động mạch chủ cho bệnh nhân hở van mức độ nặng có triệu chứng (giai đoạn D) (bảng 2), bất kể chức năng tâm thu thất trái.
- Bệnh nhân không triệu chứng
- Rối loạn chức năng tâm thu thất trái – Khuyến cáo phẫu thuật van động mạch chủ cho bệnh nhân hở van mức độ nặng mạn tính, không triệu chứng nhưng có bằng chứng rối loạn chức năng tâm thu thất trái với LVEF ≤ 55% (giai đoạn C2), nếu không tìm thấy nguyên nhân gây rối loạn chức năng tâm thu nào khác.
- Giãn thất trái mức độ nặng – Gợi ý phẫu thuật van động mạch chủ cho bệnh nhân hở van mức độ nặng mạn tính, không triệu chứng, có LVEF bình thường (> 55%) nhưng thất trái giãn nặng (đường kính thất trái cuối tâm thu [LVESD] > 50 mm hoặc LVESD hiệu chỉnh > 25 mm/m2) (giai đoạn C2).
- Thay đổi tiến triển tại thất trái – Gợi ý phẫu thuật van động mạch chủ cho bệnh nhân hở van mức độ nặng không triệu chứng, LVEF bình thường (> 55%, giai đoạn C) nhưng có tình trạng giãn thất trái nặng tiến triển (đường kính thất trái cuối tâm trương [LVEDD] > 65 mm) hoặc LVEF giảm dần về ngưỡng bình thường thấp (LVEF từ 55% đến 60%) qua ít nhất ba lần thăm khám nối tiếp, nếu nguy cơ phẫu thuật thấp.
- Phẫu thuật tim vì các chỉ định khác – Khuyến cáo phẫu thuật van động mạch chủ cho bệnh nhân hở van mức độ nặng (giai đoạn C hoặc D) khi đang thực hiện phẫu thuật tim vì chỉ định khác. Gợi ý phẫu thuật van động mạch chủ cho bệnh nhân hở van mức độ trung bình (giai đoạn B) đang phẫu thuật tim vì chỉ định khác.
Điều trị nội khoa – Vai trò của điều trị nội khoa trong hở van động mạch chủ mạn tính mức độ nặng chủ yếu giới hạn ở những bệnh nhân có triệu chứng (hoặc bệnh nhân không triệu chứng nhưng có rối loạn chức năng tâm thu thất trái) không có chỉ định phẫu thuật van động mạch chủ hoặc những bệnh nhân có triệu chứng đang trong thời gian chuẩn bị phẫu thuật. (Xem ‘Hướng tiếp cận điều trị’ và ‘Quản lý chung’ ở dưới.)
