TÓM TẮT
Dạng bào chế
- Mycophenolate (còn gọi là acid mycophenolic [MPA]) có hai dạng bào chế khác nhau: mycophenolate mofetil (MMF) và mycophenolate natri bao tan trong ruột (EC-MPS). Hai dạng này có đặc tính hấp thu khác nhau và không được sử dụng thay thế cho nhau. EC-MPS có khả năng làm giảm tỷ lệ xảy ra các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa (GI), chủ yếu là tiêu chảy, bằng cách trì hoãn việc giải phóng MPA vào ruột non thay vì ở dạ dày. Cả hai dạng đều được thủy phân nhanh chóng thành chất chuyển hóa hoạt tính MPA. Để chuyển đổi từ MMF (CellCept) 1000 mg mỗi 12 giờ sang EC-MPS (Myfortic) 720 mg mỗi 12 giờ. (Xem ‘Dược động học’ và ‘Dạng bào chế’ ở dưới.)
Cơ chế tác dụng
- MPA tác dụng thông qua việc ức chế thuận nghịch enzyme inosine monophosphate (IMP) dehydrogenase, dẫn đến giảm sự tăng sinh tế bào B và T, từ đó làm giảm sản xuất kháng thể do sự phụ thuộc của các lympho bào đã hoạt hóa vào quá trình tổng hợp purine nucleotide mới (de novo). MMF cũng có thể gây ức chế miễn dịch thông qua các cơ chế khác. (Xem ‘Cơ chế tác dụng’ ở dưới.)
Chống chỉ định
- Chống chỉ định sử dụng mycophenolate bao gồm: phụ nữ có thai, đang cho con bú và các trường hợp đang nhiễm trùng toàn thân hoặc nhiễm trùng có nguy cơ đe dọa tính mạng. (Xem ‘Chống chỉ định’ ở dưới.)
Các lưu ý trước khi điều trị
- Trước khi điều trị bằng mycophenolate, chúng tôi thường xuyên thực hiện các bước sau (xem ‘Các lưu ý trước khi điều trị’ ở dưới):
- Tương tác của mycophenolate với các thuốc khác (xem ‘Tương tác thuốc’ ở dưới)
- Tiêm chủng thích hợp trước khi điều trị (xem ‘Yêu cầu tiêm chủng’ ở dưới)
- Các xét nghiệm cơ bản bao gồm: tổng phân tích tế bào máu toàn phần (CBC) có công thức bạch cầu, nồng độ creatinine huyết thanh, xét nghiệm nước tiểu, xét nghiệm chức năng gan, huyết thanh chẩn đoán virus viêm gan B và C, và tầm soát lao tiềm ẩn (xem ‘Xét nghiệm lâm sàng và cận lâm sàng’ ở dưới)
- Đánh giá nhu cầu dự phòng viêm phổi do Pneumocystis jirovecii (P. jirovecii) (trước đây gọi là viêm phổi do Pneumocystis carinii hoặc PCP) (xem ‘Dự phòng Pneumocystis jirovecii’ ở dưới)
Liều dùng
- Liều MMF mục tiêu để điều trị hầu hết các bệnh lý thấp khớp thường nằm trong khoảng 1,5 đến 3 gram mỗi ngày, chia làm nhiều lần. Liều MMF tối đa ở bệnh nhân suy thận mạn (tức là có tốc độ lọc cầu thận nhỏ hơn 25 mL/phút) không nên vượt quá 2 gram mỗi ngày. Nên thực hiện xét nghiệm CBC từ một đến hai tuần sau khi bắt đầu liệu pháp. Nếu không có bằng chứng của tình trạng ức chế tủy xương tại thời điểm đó, chúng tôi thường thực hiện kiểm tra CBC mỗi sáu đến tám tuần một lần. (Xem ‘Liều thuốc’ và ‘Theo dõi’ ở dưới.)
Tác dụng không mong muốn
- Nếu lựa chọn bệnh nhân và theo dõi phù hợp, hồ sơ tác dụng phụ của MMF nhìn chung cũng tốt ít nhất là tương đương với hầu hết các thuốc điều hòa miễn dịch dùng trong bệnh lý thấp khớp. Các triệu chứng tiêu hóa và tình trạng ức chế tủy xương liên quan đến liều lượng là những tác dụng không mong muốn thường gặp nhất, nhưng chúng thường sẽ thuyên giảm khi điều chỉnh liều. Các nhóm tác dụng phụ chính bao gồm (xem ‘Tác dụng không mong muốn’ ở dưới):
- Triệu chứng tiêu hóa (xem ‘Tiêu hóa’ ở dưới)
- Ức chế tủy xương (xem ‘Ức chế tủy xương’ ở dưới)
- Nhiễm trùng (xem ‘Nhiễm trùng’ ở dưới)
- Bệnh ác tính (xem ‘Bệnh ác tính’ ở dưới)
