TÓM TẮT
Thuật ngữ – Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) là một quy trình phức tạp nhằm khắc phục tình trạng vô sinh để đạt được kết quả sinh con sống; đây là một loại hình kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Hiệp hội Sinh sản và Phôi học Châu Âu (ESHRE) và Hiệp hội Nội tiết Sinh sản Hoa Kỳ (ASRM) đã ban hành các hướng dẫn về thuật ngữ nhằm chuẩn hóa ngôn ngữ cho bệnh nhân, bác sĩ lâm sàng và các nhà nghiên cứu. (Xem thêm ‘Thuật ngữ’ ở dưới.)
Chỉ định của IVF – Mặc dù IVF chủ yếu được sử dụng để điều trị nhiều nguyên nhân gây vô sinh, kỹ thuật này còn được áp dụng trong các trường hợp cần sàng lọc di truyền tiền làm tổ (PGT), hỗ trợ mong muốn có con đối với những cá nhân đơn thân hoặc cặp đôi cùng giới, và lập kế hoạch cân bằng gia đình, cùng một số chỉ định khác. (Xem thêm ‘Tại sao cần thực hiện IVF?’ ở dưới.)
Đối tượng chỉ định – Bất kỳ ai không thể thụ thai tự nhiên đều được xem là đối tượng phù hợp cho phương pháp điều trị này. Các cặp đôi cùng giới hoặc cá nhân đơn thân có thể thực hiện IVF thông qua hiến tặng giao tử hoặc mang thai hộ. Những bệnh nhân có bệnh lý kèm theo nghiêm trọng, chẳng hạn như bệnh tim hoặc bệnh phổi, có thể không đủ điều kiện sức khỏe để thực hiện kích thích buồng trứng và chọc hút noãn, mặc dù quy trình này tương đối đơn giản và ít xâm lấn. (Xem thêm ‘Ai là đối tượng phù hợp?’ ở dưới.)
Các thành phần của một chu kỳ IVF – Các bước cơ bản trong một chu kỳ IVF bao gồm: kích thích buồng trứng bằng thuốc (ví dụ: gây rụng trứng hoặc siêu kích thích buồng trứng), ức chế rụng trứng sớm, chọc hút noãn, thụ tinh và chuyển phôi. (Xem thêm “Thụ tinh trong ống nghiệm: Quy trình”.)
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công của IVF – Yếu tố quyết định hàng đầu đối với sự thành công của IVF là tuổi sinh học của người hiến noãn. Các yếu tố hạn chế tỷ lệ thành công bao gồm dự trữ buồng trứng kém, tình trạng ứ dịch vòi trứng, hút thuốc lá hoặc sử dụng thuốc lá. (Xem thêm ‘Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thành công của IVF?’ ở dưới.)
Tỷ lệ thai kỳ và tỷ lệ trẻ sinh sống – Tính trên mỗi chu kỳ, tỷ lệ trẻ sinh sống sau các chu kỳ IVF đạt đến giai đoạn chuyển phôi (ET) cao hơn so với thụ thai tự nhiên trong quần thể chung (xấp xỉ 40% so với 28%). Tỷ lệ sinh sống cao hơn ở IVF có khả năng là do việc thu thập được nhiều noãn, từ đó cho phép chuyển nhiều phôi hoặc lựa chọn phôi chất lượng tốt hơn.
Kết cục thai kỳ – Các thai kỳ thông qua kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART) nhìn chung có kết cục tốt. Tuy nhiên, tăng nguy cơ đa thai, sinh non, trẻ nhẹ cân, bất thường bánh nhau, thai ngoài tử cung và các rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ. (Xem thêm “Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: Kết cục thai kỳ và sức khỏe người mẹ”.) (Xem thêm “Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: Kết cục ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ”.)
Chu kỳ IVF không thành công – Một chu kỳ IVF có thể gặp khó khăn ở bất kỳ bước nào trong quy trình; các vấn đề có thể xảy ra trước hoặc sau khi hình thành phôi. Trong một số trường hợp, nguyên nhân không thể xác định được. Chất lượng phôi thường là yếu tố hạn chế đối với những bệnh nhân có nhiều chu kỳ IVF thất bại liên tiếp. (Xem thêm ‘Tại sao IVF không thành công?’ ở dưới.)
