TÓM TẮT
Bệnh giai đoạn pT3 hoặc diện cắt dương tính
Theo các báo cáo gần đây, có từ 50% đến 75% nam giới mắc bệnh giai đoạn giải phẫu bệnh (pT3) cuối cùng sẽ tái phát sinh hóa sau phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc. Nguy cơ tái phát bệnh ở nam giới có diện cắt dương tính hoặc hạch bạch huyết dương tính trên giải phẫu bệnh là khác nhau ở từng trường hợp. (Xem “Nguy cơ tái phát” ở dưới).
Mặc dù lợi ích của xạ trị còn chưa rõ ràng, chúng tôi đề xuất hướng tiếp cận điều trị bổ trợ cho nhóm bệnh nhân này như sau:
- Đối với nam giới có bệnh giai đoạn pT3, hạch âm tính, diện cắt phẫu thuật âm tính hoặc dương tính tối thiểu sau phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc, và nồng độ PSA huyết thanh không phát hiện được, chúng tôi đề nghị theo dõi bằng định lượng PSA nối tiếp, thay vì xạ trị bổ trợ, và dành phương án xạ trị cứu vãn sớm cho những trường hợp sau đó có PSA tăng lên $\ge 0,2\text{ ng/mL}$ (Khuyến cáo 2B). (Xem “Xạ trị: Bổ trợ so với cứu vãn sớm” ở dưới).
- Đối với một số ít nam giới có diện cắt phẫu thuật dương tính diện rộng, đặc biệt là bệnh nhóm độ ác tính (grade group) 4 hoặc 5 (bảng 3), chúng tôi thảo luận về các nguy cơ và lợi ích của xạ trị ngoài bổ trợ sau phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc để đưa ra quyết định chung. Theo dõi sát các dấu hiệu tái phát sinh hóa, sau đó tiến hành xạ trị cứu vãn ngay khi có dấu hiệu tái phát đầu tiên, là một giải pháp thay thế có thể chấp nhận được. (Xem “Nam giới mắc bệnh nguy cơ cao” ở dưới).
- Ngoài phạm vi thử nghiệm lâm sàng, chúng tôi không chỉ định liệu pháp nội tiết (ADT) cho nam giới đang thực hiện xạ trị bổ trợ. Các khuyến nghị cụ thể về việc kết hợp ADT đồng thời ở nam giới thực hiện xạ trị cứu vãn sớm được trình bày ở phần riêng. (Xem “Nồng độ PSA huyết thanh tăng cao hoặc duy trì ở mức cao sau phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc do ung thư tuyến tiền liệt: Quản lý”, phần ‘Xạ trị nền tuyến tiền liệt kết hợp liệu pháp ức chế Androgen’).
- Vai trò của riêng liệu pháp ADT bổ trợ sau phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt ở bệnh nhân âm tính với hạch vẫn chưa rõ ràng. Chúng tôi chỉ áp dụng phương pháp này (thường là bicalutamide liều cao [150 mg/ngày]) cho một nhóm rất chọn lọc gồm những nam giới trẻ tuổi còn hoạt động tình dục, vẫn duy trì được chức năng cương dương sau phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc đối với bệnh giai đoạn cao, đã cắt bỏ hoàn toàn (ví dụ: nhóm độ ác tính 4 hoặc 5 (bảng 3), pT3b) với nồng độ PSA không phát hiện được, những người đã được thông báo về nguy cơ chứng vú to ở nam giới và có nguyện vọng tránh xạ trị. (Xem “Chỉ dùng ADT đơn thuần mà không xạ trị” ở dưới).
- Chúng tôi không áp dụng bất kỳ hình thức hóa trị nào (docetaxel, mitoxantrone) trong bối cảnh điều trị bổ trợ, do chưa có bằng chứng cho thấy lợi ích từ phương pháp này. (Xem “Vai trò của hóa trị” ở dưới).
Hạch bạch huyết dương tính
- Đối với phần lớn nam giới có di căn hạch bạch huyết trên giải phẫu bệnh và nồng độ PSA không phát hiện được sau phẫu thuật, chúng tôi đề nghị sử dụng liệu pháp ADT bổ trợ có hoặc không kèm theo xạ trị (Khuyến cáo 2B). Thời gian tối ưu của liệu pháp ADT hiện chưa được thiết lập cố định; chúng tôi hướng đến thời gian điều trị từ 12 đến 24 tháng.
- Đối với hầu hết bệnh nhân có di căn hạch bạch huyết trên giải phẫu bệnh và có tuổi thọ ước tính ít nhất là 5 năm, chúng tôi ưu tiên kết hợp ADT bổ trợ với xạ trị. Tuy nhiên, các giá trị và sở thích cá nhân là một thành phần quan trọng trong quyết định này, và nhiều bệnh nhân từ chối xạ trị, đặc biệt là khi nồng độ PSA không phát hiện được sau phẫu thuật. Nếu lựa chọn xạ trị, nhiều bác sĩ lâm sàng, bao gồm một số tác giả và biên tập viên liên quan đến bài tổng quan này, sẽ trì hoãn việc bắt đầu điều trị cho đến 6 đến 12 tháng sau phẫu thuật. Ở những nam giới có tuổi thọ ước tính $<5$ năm và không có triệu chứng, theo dõi định kỳ hoặc dùng ADT là những lựa chọn hợp lý. (Xem “Tổn thương hạch bạch huyết” ở dưới).
