TÓM TẮT
- Dịch tễ học
Bệnh loiasis, hay còn gọi là bệnh giun mắt châu Phi, do giun tròn filarial Loa loa gây ra. Bệnh lây truyền qua vết cắn của ruồi Chrysops; Tây và Trung Phi là các vùng lưu hành dịch tễ. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.) - Biểu hiện lâm sàng
Nhiều cá nhân nhiễm L. loa không có triệu chứng. Hai biểu hiện lâm sàng điển hình của loiasis là sưng dưới da (gọi là sưng Calabar) (hình 1) và sự di chuyển của giun trưởng thành qua kết mạc mắt (gọi là giun mắt) (hình 2). (Xem ‘Dấu hiệu và triệu chứng’ ở dưới.)
Các bất thường xét nghiệm không đặc hiệu nhưng có tính chất đặc trưng bao gồm tăng bạch cầu ái toan, tăng gammaglobulin máu và tăng nồng độ IgE; những phát hiện này thường gặp ở những người chưa có miễn dịch hơn là cư dân tại các vùng lưu hành dịch tễ. (Xem ‘Bất thường xét nghiệm’ ở dưới.) - Chẩn đoán
Cần nghi ngờ loiasis ở những cá nhân có yếu tố dịch tễ liên quan, biểu hiện lâm sàng phù hợp và các kết quả xét nghiệm hỗ trợ. Có thể chẩn đoán xác định loiasis bằng cách tìm thấy giun trưởng thành đang di chuyển trong mô dưới da hoặc kết mạc, hoặc bằng cách phát hiện ấu trùng trong máu (hình 3). Cần định lượng mật độ ấu trùng trong máu trước khi bắt đầu điều trị loiasis. - Điều trị đơn nhiễm
Chúng tôi điều trị cho tất cả bệnh nhân nhiễm L. loa, dựa trên các dữ liệu cho thấy mối liên quan giữa tình trạng ấu trùng máu và nguy cơ tử vong cao. Liều lượng thuốc được tóm tắt trong bảng (bảng 2). (Xem ‘Lý do điều trị toàn dân’ ở dưới.)- Bệnh nhân có mật độ ấu trùng thấp (<2.500/mL)
Đối với những bệnh nhân này, chúng tôi đề xuất điều trị triệt để bằng diethylcarbamazine (DEC) (Khuyến cáo 2C), do thuốc có tác dụng cả với ấu trùng và giun trưởng thành L. loa. Albendazole là một phác đồ thay thế. (Xem ‘<2.500 ấu trùng/mL’ ở dưới.) - Bệnh nhân có mật độ ấu trùng cao (≥2.500/mL)
Đối với những bệnh nhân này, chúng tôi thực hiện giảm mật độ ấu trùng xuống <2.500/mL trước khi điều trị triệt để bằng DEC, do nguy cơ xảy ra các biến cố bất lợi (viêm não và/hoặc sốc) ở những bệnh nhân có mật độ ấu trùng trong máu cao khi điều trị bằng DEC (thuật toán 1).
Với bệnh nhân có mật độ ấu trùng L. loa từ 2.500 đến 20.000/mL, chúng tôi đề xuất dùng ivermectin để giảm mật độ ấu trùng (Khuyến cáo 2C), sau đó mới điều trị triệt để bằng DEC. (Xem ‘2.500 đến 20.000 ấu trùng/mL’ ở dưới.)
Với bệnh nhân có mật độ ấu trùng L. loa >20.000/mL, chúng tôi đề xuất dùng albendazole để giảm mật độ ấu trùng (Khuyến cáo 2C), sau đó mới điều trị triệt để bằng DEC. Việc sử dụng ivermectin ở những bệnh nhân có tải lượng ấu trùng cao có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng. (Xem ‘≥20.000 ấu trùng/mL’ ở dưới.)
- Bệnh nhân có mật độ ấu trùng thấp (<2.500/mL)
- Điều trị đồng nhiễm
- Đồng nhiễm onchocerciasis
Điều trị đồng nhiễm loiasis và onchocerciasis cần được hết sức thận trọng; chống chỉ định sử dụng DEC trong bệnh onchocerciasis vì thuốc có thể gây ra các phản ứng viêm nghiêm trọng ở da và mắt (phản ứng Mazzotti). Liều lượng thuốc được tóm tắt trong bảng (bảng 2). (Xem ‘Đồng nhiễm onchocerciasis’ ở dưới.)
Với bệnh nhân có mật độ ấu trùng L. loa <20.000/mL, có thể điều trị onchocerciasis (bằng ivermectin) đồng thời với điều trị loiasis (bằng albendazole).
Với bệnh nhân có mật độ ấu trùng L. loa ≥20.000/mL, phương pháp tối ưu vẫn chưa được xác định rõ. Cần cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích và nguy cơ khi điều trị bằng ivermectin; bao gồm việc đánh giá mức độ tổn thương mắt do onchocerciasis và tình trạng ngứa, cũng như mật độ ấu trùng L. loa. Chúng tôi đề xuất điều trị bằng ivermectin (để giảm mật độ ấu trùng onchocerciasis) sau đó là albendazole (để điều trị loiasis) (Khuyến cáo 2C). Bệnh nhân nên được theo dõi nội trú trong khi thực hiện đợt điều trị đầu tiên bằng ivermectin. - Đồng nhiễm giun chỉ bạch huyết
Điều trị đồng nhiễm loiasis và giun chỉ bạch huyết tương tự như điều trị đơn nhiễm loiasis. (Xem ‘Đồng nhiễm giun chỉ bạch huyết’ ở dưới.) - Đồng nhiễm onchocerciasis và giun chỉ bạch huyết
Điều trị đồng nhiễm cả loiasis, onchocerciasis và giun chỉ bạch huyết tương tự như điều trị đồng nhiễm loiasis và onchocerciasis. (Xem ‘Đồng nhiễm onchocerciasis và giun chỉ bạch huyết’ ở dưới.)
- Đồng nhiễm onchocerciasis
- Theo dõi
Sau khi hoàn tất điều trị, chúng tôi thực hiện đánh giá lại mật độ ấu trùng sau 6 và 12 tháng, đồng thời điều trị lại cho những bệnh nhân vẫn còn tình trạng ấu trùng trong máu. (Xem ‘Theo dõi’ ở dưới.) - Dự phòng
Đối với những người du lịch tiếp xúc lâu ngày tại các vùng lưu hành dịch tễ, chúng tôi đề xuất sử dụng DEC dự phòng hàng tuần (Khuyến cáo 2C). Việc dự phòng là không cần thiết đối với hầu hết những người du lịch ngắn hạn do nguy cơ nhiễm bệnh thấp.
Các biện pháp bảo vệ cá nhân để tránh ruồi cắn có thể có ích đối với một số cá nhân, nhưng việc kiểm soát vectơ quy mô lớn vẫn chưa được chứng minh là khả thi tại các vùng lưu hành dịch tễ. Hiện chưa có vaccine phòng nhiễm L. loa.
