Sự thích nghi của người mẹ khi mang thai: Thay đổi tim mạch và huyết động

TÓM TẮT

Tổng quan – Những thay đổi của hệ tim mạch liên quan đến thai kỳ bắt đầu sớm sau khi thụ thai và tiếp diễn trong suốt quá trình mang thai. Việc nắm vững các thay đổi này là cần thiết để phân tích chính xác các xét nghiệm huyết động và tim mạch ở bệnh nhân mang thai và sau sinh, dự đoán tác động của thai kỳ đối với bệnh nhân có bệnh tim sẵn có, cũng như hiểu rõ các rối loạn tim mạch của người mẹ có thể ảnh hưởng đến thai nhi như thế nào (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới).

Thay đổi trước khi sinh

Thể tích huyết tương tăng từ 40 đến 50% và khối lượng hồng cầu tăng 25% so với mức trước khi mang thai, dẫn đến tình trạng thiếu máu do pha loãng (thiếu máu sinh lý trong thai kỳ). (Xem ‘Thay đổi về thể tích huyết tương, khối lượng hồng cầu và các yếu tố đông máu’ ở dưới).

Cung lượng tim đạt đỉnh cao hơn 30 đến 40% so với mức trước khi mang thai (hình 1). Sự gia tăng này một phần là do (xem ‘Cung lượng tim’ ở dưới):

Huyết áp tâm thu (BP), huyết áp tâm trương và huyết áp động mạch trung bình đều giảm so với mức trước khi mang thai (hình 3). Trong suốt thai kỳ, huyết áp tâm trương giảm nhiều hơn huyết áp tâm thu, dẫn đến hiệu số huyết áp (pulse pressure) giãn rộng. (Xem ‘Huyết áp’ ở dưới).

Thay đổi trong khi sinh – Ở những bệnh nhân không gây tê ngoài màng cứng, cung lượng tim cơ bản giữa các cơn co tử cung tăng 12% so với mức trước khi chuyển dạ. Trong quá trình co thắt, cung lượng tim tăng dần theo tiến triển của cuộc chuyển dạ, tăng trung bình 34% so với mức trước khi chuyển dạ khi cổ tử cung mở hết. Sự gia tăng này là do đau và lượng máu từ các xoang tĩnh mạch tử cung được đẩy vào tuần hoàn hệ thống theo mỗi cơn co. Trong giai đoạn hai, việc rặn đẻ khiến cung lượng tim tăng lên đến 50% so với mức trước chuyển dạ. Huyết áp cũng tăng trong khi sinh. (Xem ‘Thay đổi trong khi sinh’ ở dưới).

Thay đổi sau sinh – Ngay sau khi sinh, cung lượng tim và thể tích nhát bóp tăng lần lượt 59% và 71%, sau đó giảm dần về mức trước khi mang thai trong vòng ba tháng hoặc lâu hơn. Huyết áp đạt đỉnh từ 3 đến 6 ngày sau sinh và thường trở về mức cơ bản sau 14 ngày. Nhịp tim thường cũng trở về mức cơ bản sau 14 ngày sau sinh. (Xem ‘Thay đổi sau sinh’ ở dưới).

Các điểm mấu chốt trong đánh giá tim mạch ở bệnh nhân mang thai:

  • Đánh trống ngực xảy ra thường xuyên trong thai kỳ. Việc chẩn đoán phân biệt và đánh giá chẩn đoán không khác biệt so với bệnh nhân không mang thai. (Xem ‘Tiền sử’ ở dưới).
  • Các thay đổi khi nghe tim có thể bao gồm tiếng tim rõ hơn, tiếng T1 tách rộng, tiếng thổi tâm thu tống máu (tối đa độ 2/6) ở vùng van động mạch phổi và động mạch chủ, tiếng tim thứ ba (T3) và tiếng ù tĩnh mạch. Tiếng thổi toàn tâm thu và tiếng thổi tâm trương là không bình thường. (Xem ‘Khám thực thể’ ở dưới).
  • Những thay đổi nhẹ trên X-quang ngực, điện tâm đồ và siêu âm tim cũng xảy ra. Sự xoay tim sang trái và tình trạng tăng thể tích máu liên quan đến thai kỳ là nguyên nhân chính gây ra nhiều thay đổi này. (Xem ‘X-quang ngực’, ‘Điện tâm đồ’ và ‘Siêu âm tim’ ở dưới).

Đa thai – Những thay đổi về tim mạch ở phụ nữ mang đa thai diễn ra rõ rệt hơn so với các thay đổi ở đơn thai đã mô tả ở trên. (Xem ‘Đa thai’ ở dưới).

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here