Tổn thương phổi do Nitrosourea

TÓM TẮT

  • Phổ các tác dụng phụ trên phổi của nhóm thuốc nitrosourea

    Các thuốc nitrosourea là các tác nhân alkyl hóa DNA, có liên quan đến hội chứng viêm phổi vô căn, viêm phổi kẽ (thường xảy ra trong vòng ba năm điều trị) và xơ hóa khởi phát muộn (xơ chun màng phổi-nhu mô [PPFE], thường xuất hiện nhiều năm sau điều trị). Carmustine (BCNU) là loại nitrosourea được sử dụng phổ biến nhất. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

  • Hội chứng viêm phổi vô căn

    Hội chứng viêm phổi vô căn (IPS) phát triển ở khoảng 10% bệnh nhân trong vòng tối đa bốn tháng sau khi ghép tế bào tạo máu (HCT). Mặc dù nguyên nhân gây IPS có thể do nhiều yếu tố, carmustine và lomustine được sử dụng trong phác đồ chuẩn bị ghép HCT cho bệnh nhân lymphoma Hodgkin và các bệnh lý ác tính khác có thể là những yếu tố góp phần. (Xem ‘Hội chứng viêm phổi vô căn sau ghép tế bào tạo máu’ ở dưới và “Biến chứng phổi sau ghép tế bào tạo máu đồng loài: Nguyên nhân”, phần ‘Hội chứng viêm phổi vô căn’.)

  • Viêm phổi kẽ
  • Yếu tố nguy cơ

    Các yếu tố nguy cơ của viêm phổi kẽ bao gồm liều cao (đặc biệt là liều trên 1500 mg/m²), sử dụng đồng thời các thuốc khác gây độc tính trên phổi (ví dụ: cyclophosphamide), và có thể bao gồm bệnh phổi nền, xạ trị khu trú thành ngực và cơ địa dị ứng. (Xem ‘Viêm phổi kẽ cấp và bán cấp’ ở dưới.)

  • Chẩn đoán phân biệt

    Chẩn đoán độc tính phổi do nitrosourea khởi phát sớm thường dựa trên tiền sử tiếp xúc thuốc và bệnh cảnh lâm sàng phù hợp, nhưng đây là một chẩn đoán loại trừ. Chẩn đoán phân biệt bao gồm tổn thương phổi do xạ trị, phù phổi, tổn thương phổi do bệnh lý ác tính nền và thuyên tắc phổi. (Xem ‘Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

  • Theo dõi và ngưỡng ngừng thuốc

    Đối với những bệnh nhân đang điều trị duy trì (ví dụ: các chu kỳ lặp lại cho khối u đặc) bằng carmustine hoặc lomustine, hầu hết các chuyên gia, bao gồm cả tác giả và biên tập viên của bài tổng quan này, đều đo dung tích sống gắng sức (FVC) và khả năng khuếch tán carbon monoxide (DLCO) trước mỗi liều dùng và ngừng thuốc nếu có sự sụt giảm có thể đo lường được (tức là giảm >10%) ở một trong hai chỉ số này. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới.)

  • Liệu pháp glucocorticoid toàn thân

    Đối với những bệnh nhân có độc tính phổi do nitrosourea khởi phát sớm mức độ trung bình đến nặng (ví dụ: khó thở khi nghỉ ngơi, độ bão hòa oxy giảm xuống dưới 90% hoặc giảm hơn 4% so với mức cơ sở, hoặc tình trạng lâm sàng xấu đi) và không có bằng chứng nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị sử dụng liệu pháp glucocorticoid toàn thân thay vì chỉ theo dõi và chăm sóc hỗ trợ đơn thuần (Khuyến cáo 2C). Liều khởi đầu tương đương với prednisone đường uống 40 đến 60 mg/ngày hoặc 1 mg/kg/ngày, sau đó giảm liều dần trong hai đến ba tháng sau khi tình trạng cải thiện, kết hợp với dự phòng Pneumocystis jirovecii thích hợp. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới.)

  • Xơ chun màng phổi-nhu mô khởi phát muộn

    Liều cao carmustine cũng là một yếu tố nguy cơ gây PPFE khởi phát muộn, tình trạng này có tỷ lệ tử vong khoảng 50% và liên quan đến các bằng chứng trên chẩn đoán hình ảnh hoặc sinh lý học về xơ phổi ở những bệnh nhân sống sót lâu dài. (Xem ‘Xơ chun màng phổi-nhu mô khởi phát muộn’ ở dưới.)

  • Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh

    PPFE khởi phát muộn thường biểu hiện bằng tình trạng khó thở và ho tiến triển dần vài năm sau khi ngừng carmustine. Các phát hiện chẩn đoán hình ảnh chính là viền màng phổi vùng đỉnh dày, không đều; các vùng đông đặc hình chêm lan vào nhu mô dọc theo các vách; và đôi khi có tình trạng co kéo rốn phổi về phía đầu và giãn phế quản do co kéo lân cận. Các xét nghiệm chức năng phổi cho thấy hội chứng hạn chế. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới và ‘Đánh giá’ ở dưới.)

  • Chẩn đoán

    Chẩn đoán PPFE thường dựa vào các đặc điểm lâm sàng, tiền sử tiếp xúc với nitrosourea và hình ảnh HRCT. (Xem ‘Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

  • Điều trị

    Chưa có phương pháp điều trị nào được chứng minh là có ảnh hưởng đến diễn tiến của PPFE khởi phát muộn do nitrosourea. Dựa trên đặc điểm mô bệnh học là xơ hóa mà không có viêm, glucocorticoid không có vai trò trong trường hợp này. Ghép phổi có thể là một lựa chọn. (Xem ‘Điều trị và tiên lượng’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here