TÓM TẮT
- Phẫu thuật cắt thực quản
Các phẫu thuật cắt bỏ thực quản và tái tạo sự liên tục của đường tiêu hóa là những kỹ thuật đầy thách thức. Tỷ lệ bệnh tật và tử vong có sự dao động lớn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố (ví dụ: bệnh lý kèm theo của bệnh nhân, phương pháp tiếp cận phẫu thuật, kinh nghiệm/số lượng ca mổ của bệnh viện và phẫu thuật viên). (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
- Các yếu tố nguy cơ
Các yếu tố nguy cơ dẫn đến biến chứng sau phẫu thuật bao gồm: tuổi cao, suy dinh dưỡng, béo phì, hút thuốc lá, tăng huyết áp, sử dụng steroid, bệnh động mạch vành, suy tim sung huyết, bệnh mạch máu não, chạy thận nhân tạo, tăng creatinine, đái tháo đường, giai đoạn và biểu hiện của ung thư, cùng với tình trạng thể chất. So với nối thực quản qua đường cổ, nối thực quản qua đường ngực ít có nguy cơ rò hơn do chiều dài đoạn nối ngắn hơn và lực căng tại miệng nối ít hơn, từ đó giúp cải thiện tưới máu đoạn nối phía gần. (Xem ‘Tỷ lệ mắc và các yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
- Tử vong
Tỷ lệ tử vong chung trong vòng 30 ngày (không bao gồm tử vong tại bệnh viện) thường dưới 6%. Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân phẫu thuật do ung thư tương đương với bệnh nhân phẫu thuật do bệnh lý lành tính. Sự xuất hiện của các biến chứng hậu phẫu ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ tử vong dài hạn cũng như các chỉ số đánh giá chất lượng cuộc sống lâu dài. Hầu hết bệnh nhân tử vong sau phẫu thuật cắt thực quản thường gặp phải nhiều biến chứng nghiêm trọng thay vì chỉ một biến cố duy nhất. (Xem ‘Tử vong’ ở dưới.)
- Biến chứng
Các biến chứng bao gồm biến chứng toàn thân (ví dụ: viêm phổi, nhồi máu cơ tim) và các biến chứng đặc hiệu liên quan đến phẫu thuật (ví dụ: rò miệng nối, tổn thương dây thần kinh thanh quản quặt ngược).
- Biến chứng toàn thân
Biến chứng toàn thân nghiêm trọng nhất là các biến chứng phổi sau phẫu thuật. (Xem ‘Biến chứng toàn thân’ ở dưới.)
Biến chứng phổi là biến chứng thường gặp nhất sau phẫu thuật cắt bỏ và tái tạo thực quản, chiếm khoảng 2/3 số ca tử vong liên quan đến thủ thuật này. Bệnh nhân thực hiện phẫu thuật cắt thực quản qua đường ngực có nguy cơ gặp biến chứng phổi cao hơn. (Xem ‘Phổi’ ở dưới.)
Rung nhĩ, được báo cáo xảy ra ở khoảng 20% bệnh nhân phẫu thuật cắt thực quản, là một dấu hiệu gián tiếp phản ánh tỷ lệ biến chứng và tử vong sau các cuộc đại phẫu lồng ngực. (Xem ‘Rung nhĩ’ ở dưới.)
- Biến chứng đặc hiệu theo thủ thuật
Biến chứng đặc hiệu nghiêm trọng nhất là các biến chứng liên quan đến đoạn nối. Các biến chứng đặc hiệu khác bao gồm tổn thương dây thần kinh thanh quản quặt ngược, tràn dịch dưỡng chấp, thoát vị hoành và các rối loạn chức năng tiêu hóa (nuốt khó, chậm làm rỗng dạ dày, trào ngược, hội chứng dumping sau cắt dạ dày). (Xem ‘Biến chứng đặc hiệu theo thủ thuật’ ở dưới.)
Giảm tưới máu đoạn nối có thể dẫn đến bục, rò miệng nối hoặc mất đoạn nối, hoặc hình thành hẹp về sau. Thiếu máu đoạn nối toàn bộ có thể biểu hiện bằng tình trạng lâm sàng diễn tiến xấu nhanh chóng kèm theo dấu hiệu sốc nhiễm khuẩn. Nội soi là phương pháp giúp đánh giá nhanh tình trạng thiếu máu đoạn nối toàn bộ ở bệnh nhân đang diễn tiến nặng; hướng xử trí bao gồm phẫu thuật cắt bỏ đoạn nối và chuyển lưu thực quản phía gần. Bệnh nhân rò miệng nối ban đầu được điều trị bằng kháng sinh phổ rộng và dẫn lưu, sau đó theo dõi các dấu hiệu nhiễm trùng tiến triển hoặc thiếu máu đoạn nối. Đối với bệnh nhân thực hiện nối thực quản qua đường ngực, thường sẽ cần phải phẫu thuật lại để kiểm soát rò một cách thích hợp. Rò miệng nối qua đường cổ thường có thể được xử trí bằng cách dẫn lưu vết thương ở cổ mà không cần can thiệp phẫu thuật. (Xem ‘Rò miệng nối’ ở dưới.)
- Biến chứng toàn thân
