TÓM TẮT
Định nghĩa – Thất bại trong kiểm soát đường thở xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình đặt nội khí quản khi không thể đặt ống (ngay cả khi chỉ thử một lần) và không thể cung cấp đủ oxy cho bệnh nhân bằng bóng-mặt nạ hoặc thiết bị trên thanh môn (nghĩa là không duy trì được độ bão hòa oxy trong máu [SpO2] trên 90% hoặc ổn định ở mức cao 80%). Đây là kiểu thất bại đường thở “không thể đặt nội khí quản, không thể oxy hóa”. Thất bại đường thở cũng được xác định khi một người vận hành giàu kinh nghiệm đã thực hiện đặt nội khí quản bằng đèn soi thanh quản có camera (VL) thất bại hai lần, ngay cả khi việc thông khí bằng bóng-mặt nạ hoặc thiết bị trên thanh môn vẫn duy trì được SpO2 ổn định. Đây là kiểu thất bại đường thở “không thể đặt nội khí quản, có thể oxy hóa”. (Xem thêm mục ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Mở màng nhẫn giáp: Thủ thuật cứu vãn chính – Chúng tôi khuyến cáo sử dụng mở màng nhẫn giáp làm thủ thuật cứu vãn chính cho tình trạng thất bại đường thở “không thể đặt nội khí quản, không thể oxy hóa”. Mở màng nhẫn giáp có tỷ lệ thành công cao, đặc biệt khi có sự hỗ trợ của bougie. Các phương pháp thực hiện mở màng nhẫn giáp được mô tả chi tiết trong mục riêng. (Xem thêm ‘Thuật toán và tiếp cận thất bại đường thở’ ở dưới và “Mở màng nhẫn giáp cấp cứu (cricothyroidotomy)”, phần ‘Kỹ thuật ưu tiên: Dao mổ-ngón tay-bougie’.)
Trước khi thực hiện mở màng nhẫn giáp, người vận hành có thể thử đặt nhanh thiết bị đường thở trên thanh môn một lần duy nhất, với điều kiện nỗ lực này không làm trì hoãn việc mở màng nhẫn giáp quá 30 giây.
Câu hỏi then chốt: Việc oxy hóa có đầy đủ không? – Vấn đề quan trọng nhất trong xử trí thất bại đường thở là liệu có duy trì được mức oxy hóa đầy đủ (tức là SpO2 trên 90% hoặc ổn định ở mức cao 80%) hay không. Nếu oxy hóa đầy đủ, chúng ta sẽ có thời gian để lập kế hoạch quản lý đường thở tiếp theo; nếu không thể duy trì oxy hóa, cần thực hiện cứu vãn ngay lập tức (thường là) bằng mở màng nhẫn giáp. (Xem thêm ‘Thuật toán và tiếp cận thất bại đường thở’ ở dưới và “Mở màng nhẫn giáp cấp cứu (cricothyroidotomy)”.)
Không nên phụ thuộc vào thuốc đảo ngược sugammadex để cứu vãn tình trạng thất bại đường thở “không thể đặt nội khí quản, không thể oxy hóa” ở bệnh nhân tại khoa cấp cứu (ED). (Xem thêm mục ‘Liệu sugammadex có vai trò gì?’ ở dưới.)
Các thiết bị cứu vãn – Đối với bệnh nhân “không thể đặt nội khí quản, có thể oxy hóa”, có một số thiết bị cứu vãn khả thi. (Xem thêm mục ‘Các thiết bị đường thở thay thế’ ở dưới.)
- Để thông khí: Thiết bị đường thở trên thanh môn (ví dụ: Combitube, King LT, mặt nạ thanh quản – LMA)
- Để đặt nội khí quản:
- LMA hỗ trợ đặt nội khí quản (Intubating LMA)
- Stylet sợi quang cứng hoặc stylet có camera
- Đèn soi thanh quản có camera (Video laryngoscope)
- Thiết bị quang học (ví dụ: AirTraq)
- Ống nội soi mềm
