Sinh lý bệnh và dự đoán nôn, buồn nôn do hóa trị

TÓM TẮT

  • Các thể nôn – Buồn nôn và nôn do hóa trị (CINV) được chia thành ba thể lâm sàng chính: cấp tính, muộn và dự đoán. Nôn muộn thường gặp nhất sau khi dùng cisplatin, nhưng cũng có thể xuất hiện sau các thuốc khác bao gồm carboplatin, cyclophosphamide, nhóm anthracycline và oxaliplatin. (Xem ‘Các thể nôn’ ở dưới.)
  • Sinh lý bệnh – Có nhiều vị trí tiềm tàng mà hóa trị được cho là gây ra tác dụng kích thích nôn (hình 1). (Xem ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)
  • Dự báo khả năng xảy ra buồn nôn và nôn

    Nhiều yếu tố đã được xác định giúp lâm sàng dự báo khả năng khởi phát CINV trong các tình huống khác nhau, trong đó quan trọng nhất là tiềm năng gây nôn nội tại của thuốc hóa trị. Các thuốc hóa trị đường tĩnh mạch và đường uống lần lượt được chia thành bốn và hai mức độ gây nôn; các mức độ này được xác định dựa trên tần suất nôn dự kiến khi không có biện pháp dự phòng chống nôn hiệu quả. (Xem ‘Thuốc hóa trị’ ở dưới.)

    Hệ thống phân loại này được áp dụng trong các hướng dẫn điều trị chống nôn của Hiệp hội Chăm sóc Hỗ trợ Ung thư Đa quốc gia/Hiệp hội Ung thư học Châu Âu (MASCC/ESMO), Mạng lưới Ung thư Toàn diện Quốc gia (NCCN) và Hiệp hội Ung thư học Hoa Kỳ (ASCO). (Xem “Phòng ngừa buồn nôn và nôn do hóa trị ở người lớn”.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here